Dịch đề & phân tích đáp án IELTS Reading trong Actual Test Vol 1 Test 3

Passage 1: Learning by Examples 

1. Bài đọc & bản dịch tiếng Việt

Learning by Examples

A. Learning Theory is rooted in the work of Ivan Pavlov, the famous scien­tist who discovered and documented the principles governing how animals (humans included) learn in the 1900s. Two basic kinds of learning or condi­tioning occur, one of which is famously known as the classical conditioning. Classical conditioning happens when an animal learns to associate a neutral stimulus (signal) with a stimulus that has intrinsic meaning based on how closely in time the two stimuli are presented. The classic example of classical conditioning is a dog’s ability to associate the sound of a bell (something that originally has no meaning to the dog) with the presentation of food (something that has a lot of meaning to the dog) a few moments later. Dogs are able to learn the association between bell and food, and will salivate im­mediately after hearing the bell once this connection has been made. Years of learning research have led to the creation of a highly precise learning theory that can be used to understand and predict how and under what cir­cumstances most any animal will learn, including human beings, and eventu­ally help people figure out how to change their behaviors.

Lý thuyết học tập bắt nguồn từ công trình của Ivan Pavlov, một nhà khoa học nổi tiếng đã khám phá và ghi lại những nguyên tắc chi phối động vật ( bao gồm con người) học tập như thế nào vào những năm 1900. Hai kiểu học hoặc điều kiện hóa cổ điển xảy ra, một trong số đó nổi tiếng được biết là quy định cổ điển. Điều kiện hóa cổ điển xảy ra khi một động vật học cách liên kết một kích thích trung tính ( tín hiệu) với một kích thích có ý nghĩa nội tại dựa trên mức độ gần nhau về thời gian của hai kích thích. Ví dụ cố điển về điều kiện hóa cổ điển là khả năng của một con chó liên kết âm thanh của chuông ( thứ mà ban đầu không có ý nghĩa với chó) với việc bày ra thức ăn ( thứ gì đó rất có ý nghĩa với chó) một vài phút sau đó. Những con chó có khả năng liên kết giữa chuông và thức ăn, và sẽ tiết nước bọt ngay lập tức sau khi nghe chuông một khi những mối liên hệ này được tạo ra. Nhiều năm nghiên cứu về việc học đã dẫn đến việc tạo ra lý thuyết học tiếp có độ chính xác cao có thể được sử dụng để hiểu và dự đoán hầu hết bất kỳ động vật nào sẽ học ra sao và dưới hoàn cảnh nào bao gồm loài người cuối cùng sẽ giúp con người tìm ra cách thay đổi hành vi của họ.

B. Role models are a popular notion for guiding child development, but in re­cent years very interesting research has been done on learning by examples in other animals. If the subject of animal learning is taught very much in terms of classical or operant conditioning, it places too much emphasis on how we allow animals to learn and not enough on how they are equipped to learn. To teach a course of mine, I have been dipping profitably into a very interesting and accessible compilation of papers on social learning in mammals, including chimps and human children, edited by Heyes and Galef (1996).

Mô hình mẫu đóng vai là một khái niệm phổ biến trong việc hướng dẫn sự phát triển của trẻ em nhưng những năm gần đây nghiên cứu rất thú vị đã được thực hiện về việc học bằng ví dụ ở những con vật khác. Nếu chủ đề về học tập ở động vật được dạy rất nhiều về mặt điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa kết quả, nó đặt trọng tâm quá nhiều vào cách mà chúng ta cho phép động vật học và không đủ trọng tâm vào cách mà chúng được trang bị để học. Để dạy một khóa học của tôi, tôi đã tìm hiểu một cách thuận lợi một công trình biên soạn rất thú vị và dễ tiếp cận về học tập xã hội của động vật có vú bao gồm cả tinh tinh và con người, do Heyes và Galef (1996) biên tập.

C. The research reported in one paper started with a school field trip to Israel to a pine forest where many pine cones were discovered, stripped to the central core. So the investigation started with no weighty theoretical intent, but was directed at finding out what was eating the nutritious pine seeds and how they managed to get them out of the cones. The culprit proved to be the versatile and athletic black rat,(Rattus rattus), and the technique was to bite each cone scale off at its base, in sequence from base to tip following the spiral growth pattern of the cone.

Nghiên cứu được báo cáo trong một bài báo bắt đầu với một chuyến đi thực tế của khoa đến Israel đến một rừng thông nơi mà có nhiều nón thông được phát hiện, bị tước đến lõi ở giữa. Vì vậy việc điều tra bắt đầu với ý định không đặt nặng về lý thuyết nhưng được hướng vào việc tìm ra con gì đã ăn những hạt thông đầy chất dinh dưỡng này và cách mà chúng xoay sở để đưa chúng ra khỏi những cái nón thông. Thủ phạm đã được chứng minh là những con chuột đen, khỏe mạnh và linh hoạt và kỹ thuật là cắn từng cái vảy nón ở gốc của nó, theo trình tự từ gốc đến ngọn theo mô hình phát triển xoắn ốc của nón.

D. Urban black rats were found to lack the skill and were unable to learn it even if housed with experienced cone strippers. However, infants of urban mothers cross-fostered by stripper mothers acquired the skill, whereas in­fants of stripper mothers fostered by an urban mother could not. Clearly, the skill had to be learned from the mother. Further elegant experiments showed that naive adults could develop the skill if they were provided with cones from which the first complete spiral of scales had been removed; rather like our new photocopier which you can work out how to use once someone has shown you how to switch it on. In the case of rats, the young­sters take cones away from the mother when she is still feeding on them, allowing them to acquire the complete stripping skill.

Những con chuột đen thành thị được phát hiện thiếu kỹ năng này và không học nó dù cho nếu được ở cùng nhà với những con chuột tước nón thông kinh nghiệm. Tuy nhiên, những con chuột sơ sinh của những con chuột mẹ thành thị được nuôi dưỡng chéo bởi những con chuột mẹ tước nón thông thì có kỹ năng này, trong khi đó những con chuột sơ sinh của chuột mẹ biết tước nón được nuôi dưỡng bởi chuột mẹ thành thị thì không thể. Rõ ràng, kỹ năng này phải được học từ chuột mẹ. Những thử nghiệm đẳng cấp hơn đã cho thấy rằng những con chuột trưởng thành ngây thơ có thể phát triển kỹ năng này nếu chúng được cung cấp những cái nón thông mà có vảy xoắn ốc đầu tiên được loại bỏ; khá giống với máy photo mới của chúng ta, bạn có thể tìm ra cách sử dụng sau khi ai đó chỉ bạn cách bật nó lên. Trong trường hợp những con chuột, những con chuột nhỏ lấy những cái nón từ chuột mẹ khi người mẹ vẫn còn cho chúng ăn, cho phép chúng đạt được kỹ năng tước nón hoàn chỉnh.

E. A good example of adaptive bearing we might conclude, but let’s see the economies. This was determined by measuring oxygen uptake of a rat strip­ping a cone in a metabolic chamber to calculate energetic cost and compar­ing it with the benefit of the pine seeds measured by a calorimeter. The cost proved to be less than 10% of the energetic value of the cone. An acceptable profit margin.

Một ví dụ điển hình về phương diện thích nghi chúng ta có thể kết luận, nhưng hãy xem phương diện tiết kiệm. Điều này được xác định bằng việc đo lường oxy hấp thụ của chuột tước một cái nón thông trong một buồng trao đổi chất để tính toán phí tổn năng lượng và so sánh nó với lợi ích của những hạt thông được đo bằng nhiệt lượng kế. Phí tổn được chứng minh là ít hơn 10% giá trị năng lượng từ nón thông. Một biên độ lợi nhuận có thể chấp nhận.

F. A paper in 1996, Animal Behaviour by Bednekoff and Baida, provides a differ­ent view of the adaptiveness of social learning. It concerns the seed caching behavior of Clark’s Nutcracker (Nucifraga columbiana) and the Mexican Jay (Aphelocoma ultramarina). The former is a specialist, caching 30,000 or so seeds in scattered locations that it will recover over the months of winter; the Mexican Jay will also cache food but is much less dependent upon this than the Nutcracker. The two species also differ in their social structure: the Nutcracker being rather solitary while the Jay forages in social groups.

Một bài báo năm 1996, Hành vi của Động vật của Bednekoff và Baida, cung cấp một quan điểm khác về sự thích nghi của sự hiểu biết xã hội. Nó liên quan đến hành vi lưu trữ hạt của Clark (Nucifraga columbiana) và Jay Mexico (Aphelocoma ultramarina). Loài sau là một chuyên gia, lưu trữ khoảng 30.000 hạt giống trong những khu vực rải rác mà nó sẽ tìm lại trong những tháng mùa đông; Jay cũng sẽ lưu trữ thức ăn nhưng nó ít phụ thuộc vào việc trữ thức ăn hơn so với Nutcracker. Hai loài cũng khác về cấu trúc xã hội của chúng: Nutcracker sống đơn độc trong khi Jay kiếm ăn theo các nhóm xã hội.

G. The experiment is to discover not just whether a bird can remember where it hid a seed but also if it can remember where it saw another bird hide a seed. The design is slightly comical with a cacher bird wandering about a room with lots of holes in the floor hiding food in some of the holes, while watched by an observer bird perched in a cage. Two days later, cachers and observers are tested for their discovery rate against an estimated random performance. In the role of cacher, not only the Nutcracker but also the less specialized Jay performed above chance; more surprisingly, however, Jay obser­vers were as successful as Jay cachers whereas nutcracker observers did no better than chance. It seems that, whereas the Nutcracker is highly adapted at remembering where it hid its own seeds, the social living Mexican Jay is more adept at remembering, and so exploiting, the caches of others.

Thí nghiệm là để khám phá xem không chỉ việc liệu một con chim có thể nhớ nơi nó giấu hạt mà còn để xem liệu nó có thể nhớ nơi nó thấy những con chim khác dấu hạt. Cách bố trí hơi hài hước với một con chim giấu thức ăn đi lang thang trong một căn phòng có nhiều lỗ trên sàn đang giấu thức ăn trong một vài cái lỗ đó, trong khi được quan sát bởi một con chim đang đậu trong lồng. Hai ngày sau, con chim giấu thức ăn và con chim quan sát được kiểm tra tỷ lệ phát hiện của chúng so với hiệu suất được ước tính ngẫu nhiên. Trong vai trò của người giấu mồi, không chỉ Nutcracker mà mà Jay ít chuyên môn hơn đã cùng thể hiện trên tỷ lệ ngẫu nhiên; tuy nhiên, ngạc nhiên hơn, loài quan sát Jay cũng thành công như loài giấu mồi Jay trong khi loài quan sát Nutcracker thực hiện không tốt hơn hơn tỷ lệ ngẫu nhiên. Có vẻ như trong khi Nutcracker thích nghi tốt ở việc nhớ nơi mà nó giấu chính những cái hạt của nó, Mexican Jay sống theo kiểu xã hội lại giỏi ghi nhớ hơn và vì vậy khai thác nơi cất giữ của con khác.

2. Câu hỏi

Questions 1-4

Reading Passage 1 has seven paragraphs A-G.

Which paragraph contains the following information?

Write the correct letter A-G in boxes 1-4 on your answer sheet.

1. A comparison between rats’ learning and human learning

2. A reference to the earliest study in animal learning

3. The discovery of who stripped the pine cone

4. A description of a cost-effectiveness experiment

Questions 5-8

Do the following statements agree with the information given in Reading Passage 1?

In boxes 5-8 on your answer sheet, write

  • TRUE             if the statement agrees with the information
  • FALSE           if the statement contradicts the information
  • NOT GIVEN  if there is no information on this

5. The field trip to Israel was to investigate how black rats learn to strip pine cones.

6. The pine cones were stripped from bottom to top by black rats.

7. It can be learned from other relevant experiences to use a photocopier.

8. Stripping the pine cones is an instinct of the black rats.

Questions 9-13

Complete the summary below using words from the box.

Write your answers in boxes 9-13 on your answer sheet.

less         social        remembered       Nutcracker

more       cacher       watched

solitary    observer    Jay

While the Nutcracker is more able to cache seeds, the Jay relies 9 …………………. on caching food and is thus less specialized in this ability, but more 10 …………………. . To study their behavior of caching and finding their caches, an experiment was designed and carried out to test these two birds for their ability to remember where they hid the seeds.

In the experiment, the catcher bird hid seeds in the ground while the other 11…………………. . As a result, the Nutcracker and the Mexican Jay showed different performance in the role of 12 …………………. at finding the seeds – the observing 13 …………………. didn’t do as well as its counterpart.

3. Phân tích đáp án 

Question 1: Keywords: comparison, rats’ learning and human learning

Thông tin ở đoạn thứ D: “Urban black rats … stripper mothers fostered by an urban mother could not.”. Nghĩa là Những con chuột đen thành thị được phát hiện là thiếu kỹ năng và không thể học được nó ngay cả khi được nuôi chung với những người tháo nón có kinh nghiệm. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh của các bà mẹ thành thị được nuôi dưỡng bởi các bà mẹ vũ nữ thoát y có được kỹ năng này, trong khi trẻ sơ sinh của các bà mẹ vũ nữ thoát y được một bà mẹ thành thị nuôi dưỡng thì không thể.

ĐÁP ÁN: D

Question 2: Keywords: reference, earliest study in animal learning

Thông tin ở đoạn thứ A: “Learning Theory is … animals (humans included) learn in the 1900s.”. Nghĩa là Lý thuyết Học tập bắt nguồn từ công trình của Ivan Pavlov, nhà khoa học nổi tiếng, người đã khám phá và ghi lại các nguyên tắc chi phối cách học của động vật (bao gồm cả con người) vào những năm 1900.

ĐÁP ÁN: A

Question 3: Keywords: discovery, who stripped the pine cone

Thông tin ở đoạn thứ C: “The culprit proved to be the versatile and athletic black rat ,(Rattus rattus), and the technique was to bite each cone scale off at its base”. Nghĩa là Thủ phạm được chứng minh là loài chuột đen linh hoạt và khoẻ mạnh, (Rattus rattus), và kỹ thuật là cắn từng vảy hình nón ở gốc của nó

ĐÁP ÁN: C

Question 4: Keywords: description, a cost-effectiveness experiment

Thông tin ở đoạn E: “A good example of adaptive bearing we might conclude, but let’s see the economies”, nghĩa là Chúng ta có thể kết luận một ví dụ điển hình về vòng bi thích ứng, nhưng hãy nhìn xem 

ĐÁP ÁN: E

Từ vựng trong câu hỏi Từ trái nghĩa trong bài đọc
Cost-effectiveness the economies

Question 5: Keywords: field trip to Israel, how black rats learn to strip pine cones.

Thông tin ở đoạn C: “the research reported … central core”, nghĩa là nghiên cứu được báo cáo trong một bài báo bắt đầu bằng một chuyến đi thực địa của trường đến Israel đến một khu rừng thông nơi phát hiện ra nhiều nón thông đã bị tước bỏ lõi ở giữa

ĐÁP ÁN: FALSE

Question 6: Keywords: pine cones, stripped from bottom to top by black rats

Thông tin ở đoạn D: “ The culprit proved … the spiral growth pattern of the cone”, nghĩa là Thủ phạm được chứng minh là loài chuột đen linh hoạt và lực lưỡng, (Rattus rattus), và kỹ thuật này là cắn đứt từng vảy hình nón ở gốc của nó, theo trình tự từ gốc đến ngọn theo mô hình tăng trưởng xoắn ốc của hình nón.

ĐÁP ÁN: TRUE

Từ vựng trong câu hỏi Từ trái nghĩa trong bài đọc
from bottom to top from base to top

Question 7: Keywords: learned from other relevant experiences, use a photocopier.

Thông tin ở đoạn D: “rather like our new photocopier which you can work out how to use once someone has shown you how to switch it on” nghĩa là giống như máy photocopy mới của chúng tôi mà bạn có thể tìm ra cách sử dụng sau khi ai đó chỉ cho bạn cách bật nó -> vì ai đó đã chỉ cho chúng tôi cách bật máy photocopy, điều đó có nghĩa là chúng tôi đang học hỏi kinh nghiệm của họ

ĐÁP ÁN: TRUE

Question 8: Keywords: Stripping the pine cones, instinct of the black rats.

Thông tin ở đoạn D: “ Urban black rats were found to lack the skill and were unable to learn it even if housed with experienced cone strippers”, nghĩa là Những con chuột đen thành thị được phát hiện là thiếu kỹ năng và không thể học được nó ngay cả khi được nuôi chung với những người lột nón có kinh nghiệm

ĐÁP ÁN: FALSE

Question 9: Keywords: the Nutcracker, cache seeds, the Jay relies on caching food

Thông tin ở đoạn F “ the Mexican Jay will also cache food but is much less dependent upon this than the Nutcracker.”, nghĩa là Jay Mexico cũng sẽ lưu trữ thức ăn nhưng ít phụ thuộc vào điều này hơn nhiều so với Nutcracker.

ĐÁP ÁN: less

Từ vựng trong câu hỏi Từ trái nghĩa trong bài đọc
relies on dependent upon

Question 10: Keywords: less specialized in this ability, more 

Thông tin ở đoạn F: “The two species also differ in their social structure: the Nutcracker being rather solitary while the Jay forages in social groups..”, nghĩa Hai loài này cũng khác nhau về cấu trúc xã hội: Kẹp hạt dẻ khá đơn độc trong khi Jay kiếm ăn theo nhóm xã hội.

ĐÁP ÁN: social

Question 11: Keywords: cacher bird, hid seeds in the ground, the other

Thông tin ở đoạn G: “The design is slightly … bird perched in a cage”, nghĩa là Thiết kế hơi hài hước với một chú chim cacher lang thang trong một căn phòng có nhiều lỗ trên sàn để giấu thức ăn trong một số lỗi, trong khi một chú chim quan sát đậu trong lồng đang quan sát

ĐÁP ÁN: watched

Question 12: Keywords: the Nutcracker and the Mexican Jay, different performance in the role of

Thông tin ở đoạn G: “Jay observers were as successful as jay cachers whereas nutcracker observers did no better than chance”, nghĩa là những người quan sát jay đã thành công như những người quan sát jay trong khi những người quan sát nutcracker không tốt hơn cơ hội

ĐÁP ÁN: observer

Question 13: Keywords: the Nutcracker and the Mexican Jay, didn’t do as well as

Thông tin ở đoạn G: “jay observers were as successful as jay cachers whereas nutcracker observers did no better than chance”, nghĩa là hững người quan sát jay đã thành công như những người quan sát jay trong khi những người quan sát nutcracker không tốt hơn cơ hội

ĐÁP ÁN: Nutcracker

Passage 2: A New Ice Age 

1. Bản đọc & bản dịch tiếng Việt

A. William Curry is a serious, sober climate scientist, not an art critic. But he has spent a lot of time perusing Emanuel Gottlieb Leutze’s famous painting “George Washington Crossing the Delaware”, which depicts a boatload of colonial Ameri­can soldiers making their way to attack English and Hessian troops the day after Christmas in 1776. “Most people think these other guys in the boat are rowing, but they are actually pushing the ice away,” says Curry, tapping his finger on a reproduction of the painting. Sure enough, the lead oarsman is bashing the frozen river with his boot. “I grew up in Philadelphia. The place in this painting is 30 min­utes away by car. I can tell you, this kind of thing just doesn’t happen anymore.”

William Curry là một nhà khoa học khí hậu nghiêm túc, kiên quyết, không phải là một nhà phê bình nghệ thuật. Nhưng ông đã dành rất nhiều thời gian để đọc bức tranh nổi tiếng “George Washington Crossing the Delaware” của Emanuel Gottlieb Leutze, mô tả một đoàn thuyền chở lính Mỹ thuộc địa đang trên đường tấn công quân đội Anh và Hessian một ngày sau lễ Giáng sinh năm 1776. “Hầu hết mọi người đều nghĩ những người khác trên thuyền đang chèo, nhưng họ thực sự đang đẩy băng ra xa,” Curry nói, gõ ngón tay lên bản sao của bức tranh. Chắc chắn rồi, tay chèo dẫn đầu đang đập chiếc ủng của mình xuống dòng sông đóng băng. “Tôi lớn lên ở Philadelphia. Địa điểm trong bức tranh này cách đó 30 phút lái xe. Tôi có thể nói với bạn rằng, loại chuyện này không còn xảy ra nữa ”.

B. But it may happen again soon. And ice-choked scenes, similar to those immortalized by the 16th-century Flemish painter Pieter Brueghel the Elder, may also return to Europe. His works, including the 1565 masterpiece “Hunters in the Snow”, make the now-temperate European landscapes look more like Lapland. Such frigid set­tings were commonplace during a period dating roughly from 1300 to 1850 be­cause much of North America and Europe was in the throes of a little ice age. And now there is mounting evidence that the chill could return. A growing number of scientists believe conditions are ripe for another prolonged cooldown, or small ice age. While no one is predicting a brutal ice sheet like the one that covered the Northern Hemisphere with glaciers about 12,000 years ago, the next cooling trend could drop average temperatures 5 degrees Fahrenheit over much of the United States and 10 degrees in the Northeast, northern Europe, and northern Asia.

Nhưng nó có thể một lần nữa sớm. Và những cảnh tượng nghẹt thở như băng, tương tự như những cảnh bất tử của họa sĩ người Flemish thế kỷ 16, Pieter Bruegel the Elder, cũng có thể quay trở lại châu Âu. Các tác phẩm của ông, trong đó có kiệt tác “Những người thợ săn trong tuyết” năm 1565, làm cho các cảnh quan châu Âu ôn hòa hiện nay trông giống Lapland hơn. Những khung cảnh lạnh giá như vậy là phổ biến trong khoảng thời gian từ năm 1300 đến năm 1850 vì phần lớn Bắc Mỹ và Châu Âu đang trong thời kỳ băng hà nhỏ. Và bây giờ ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy cái lạnh có thể quay trở lại. Ngày càng có nhiều nhà khoa học tin rằng các điều kiện đã chín muồi cho một đợt hạ nhiệt kéo dài khác, hay còn gọi là kỷ băng hà nhỏ. Mặc dù không ai dự đoán được một dải băng tàn bạo giống như dải bao phủ Bắc bán cầu bằng sông băng khoảng 12.000 năm trước, nhưng xu hướng làm mát tiếp theo có thể làm giảm nhiệt độ trung bình 5 độ F so với phần lớn Hoa Kỳ và 10 độ ở Đông Bắc, Bắc Âu , và Bắc Á.

C. “It could happen in 10 years,” says Terrence Joyce, who chairs the Woods Hole Physical Oceanography Department. “Once it does, it can take hundreds of years to reverse.” And he is alarmed that Americans have yet to take the threat seriously.

“Điều đó có thể xảy ra trong 10 năm nữa,” Terrence Joyce, chủ tịch Cục Hải dương học Vật lý Woods Hole, cho biết. “Một khi nó xảy ra, có thể mất hàng trăm năm để đảo ngược.” Và anh ấy lo lắng rằng người Mỹ vẫn chưa coi trọng mối đe dọa này.

D. A drop of 5 to 10 degrees entails much more than simply bumping up the thermo­stat and carrying on. Both economically and ecologically, such quick, persistent chilling could have devastating consequences. A 2002 report titled “Abrupt Climate Change: Inevitable Surprises”, produced by the National Academy of Sciences, pegged the cost from agricultural losses alone at $100 billion to $250 billion while also predicting that damage to ecologies could be vast and incalculable. A grim sampler: disappearing forests, increased housing expenses, dwindling freshwater, lower crop yields, and accelerated species extinctions.

Việc giảm từ 5 đến 10 độ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ đơn giản là bật bộ điều nhiệt lên và tiếp tục thực hiện. Cả về mặt kinh tế và sinh thái, việc làm lạnh nhanh và liên tục như vậy có thể gây ra những hậu quả tàn khốc. Một báo cáo năm 2002 có tựa đề “Biến đổi khí hậu đột ngột: Những bất ngờ không thể tránh khỏi”, do Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia thực hiện, đã xác định chi phí do tổn thất nông nghiệp riêng từ 100 tỷ đến 250 tỷ USD đồng thời dự đoán rằng thiệt hại đối với hệ sinh thái có thể rất lớn và không thể tính toán được. Một ví dụ nghiệt ngã: rừng biến mất, chi phí nhà ở tăng, nước ngọt cạn kiệt, năng suất cây trồng thấp hơn và sự tuyệt chủng của các loài gia tăng.

E. The reason for such huge effects is simple. A quick climate change wreaks far more disruption than a slow one. People, animals, plants, and the economies that depend on them are like rivers; says the report: “For example, high water in a river will pose few problems until the water runs over the bank, after which levees can be breached and massive flooding can occur. Many biological processes undergo shifts at particular thresholds of temperature and precipitation.”

Lý do cho những hiệu ứng to lớn như vậy là đơn giản. Biến đổi khí hậu nhanh chóng gây ra nhiều gián đoạn hơn nhiều so với biến đổi khí hậu chậm. Con người, động vật, thực vật và các nền kinh tế phụ thuộc vào chúng giống như những dòng sông; báo cáo cho biết: “Ví dụ, mực nước dâng cao trên sông sẽ gây ra một số vấn đề cho đến khi nước chảy qua bờ, sau đó đê có thể bị vỡ và lũ lụt lớn có thể xảy ra. Nhiều quá trình sinh học trải qua những thay đổi ở các ngưỡng nhiệt độ và lượng mưa cụ thể. ”

F. Political changes since the last ice age could make survival far more difficult for the world’s poor. During previous cooling periods, whole tribes simply picked up and moved south, but that option doesn’t work in the modern, tense world of closed borders. “To the extent that abrupt climate change may cause rapid and ex­tensive changes of fortune for those who live off the land, the inability to migrate may remove one of the major safety nets for distressed people,” says the report.

Những thay đổi chính trị kể từ kỷ băng hà cuối cùng có thể khiến người nghèo trên thế giới khó tồn tại hơn rất nhiều. Trong các thời kỳ nguội lạnh trước đây, toàn bộ các bộ lạc chỉ đơn giản là chọn và di chuyển về phía nam, nhưng lựa chọn đó không hoạt động trong thế giới hiện đại, căng thẳng của các biên giới khép kín. Báo cáo cho biết: “Trong phạm vi biến đổi khí hậu đột ngột có thể gây ra những thay đổi nhanh chóng và rộng lớn về tài sản cho những người sống xa đất liền, việc không thể di cư có thể loại bỏ một trong những mạng lưới an toàn chính cho những người đau khổ”.

G. But first things first. Isn’t the earth actually warming? Indeed it is, says Joyce. ‘ In his cluttered office, full of soft light from the foggy Cape Cod morning, he explains how such warming could actually be the surprising culprit of the next mini-ice age. The paradox is a result of the appearance over the past 30 years in the North Atlantic of huge rivers of fresh water – the equivalent of a 10-foot-thick layer – mixed into the salty sea. No one is certain where the fresh torrents are coming from, but a prime suspect is melting Arctic ice, caused by a build-up of carbon dioxide in the atmosphere that traps solar energy.

Nhưng điều đầu tiên trước tiên. Không phải trái đất đang thực sự nóng lên sao? Thật vậy, Joyce nói. ‘ Trong văn phòng bừa bộn của mình, tràn ngập ánh sáng dịu nhẹ từ buổi sáng đầy sương mù ở Cape Cod, ông ấy giải thích việc sự nóng lên như vậy thực sự có thể là thủ phạm đáng ngạc nhiên của kỷ băng hà nhỏ tiếp theo như thế nào. Nghịch lý là kết quả của sự xuất hiện trong 30 năm qua ở Bắc Đại Tây Dương của những dòng sông nước ngọt khổng lồ – tương đương với một lớp dày 10 foot – hòa vào biển mặn. Không ai chắc chắn những dòng chảy mới đến từ đâu, nhưng một nghi phạm chính đang làm tan chảy băng ở Bắc Cực, gây ra bởi sự tích tụ carbon dioxide trong bầu khí quyển bẫy năng lượng mặt trời.

H. The freshwater trend is major news in ocean-science circles. Bob Dickson, a Brit­ish oceanographer who sounded an alarm at a February conference in Honolulu, has termed the drop in salinity and temperature in the Labrador Sea – a body of water between northeastern Canada and Greenland that adjoins the Atlantic – “arguably the largest full-depth changes observed in the modern instrumental oceanographic record”.

Xu hướng nước ngọt là tin tức chính trong giới khoa học đại dương. Bob Dickson, một nhà hải dương học người Anh, người đã gióng lên hồi chuông cảnh báo tại một hội nghị hồi tháng Hai ở Honolulu, đã gọi sự sụt giảm độ mặn và nhiệt độ ở Biển Labrador – một vùng nước nằm giữa đông bắc Canada và Greenland tiếp giáp với Đại Tây Dương – “được cho là những thay đổi toàn chiều sâu lớn nhất được quan sát thấy trong hồ sơ hải dương học bằng công cụ hiện đại”.

I. The trend could cause a little ice age by subverting the northern penetration of Gulf Stream waters. Normally, the Gulf Stream, laden with heat soaked up in the tropics, meanders up the east coasts of the United States and Canada. As it flows northward, the stream surrenders heat to the air. Because the prevailing North Atlantic winds blow eastward, a lot of the heat wafts to Europe. That’s why many scientists believe winter temperatures on the Continent are as much as 36 de­grees Fahrenheit warmer than those in North America at the same latitude. Frigid Boston, for example, lies at almost precisely the same latitude as balmy Rome. And some scientists say the heat also warms Americans and Canadians. “It’s a real mistake to think of this solely as a European phenomenon,” says Joyce.

Xu hướng này có thể gây ra một thời kỳ băng hà nhỏ bằng cách phá vỡ sự xâm nhập về phía bắc của các vùng nước thuộc Dòng chảy Vịnh. Thông thường, dòng hải lưu Gulf Stream, chứa đầy hơi nóng hấp thụ ở vùng nhiệt đới, uốn khúc dọc theo bờ biển phía đông của Hoa Kỳ và Canada. Khi nó chảy về phía bắc, dòng chảy truyền nhiệt cho không khí. Bởi vì những cơn gió thịnh hành ở Bắc Đại Tây Dương thổi về phía đông, rất nhiều hơi nóng tỏa đến châu Âu. Đó là lý do tại sao nhiều nhà khoa học tin rằng nhiệt độ mùa đông trên Lục địa ấm hơn tới 36 độ F so với nhiệt độ ở Bắc Mỹ ở cùng vĩ độ. Chẳng hạn, Boston lạnh giá nằm ở cùng vĩ độ gần như chính xác với Rome dịu mát. Và một số nhà khoa học nói rằng sức nóng cũng làm ấm người Mỹ và Canada. Joyce nói: “Thật sai lầm khi nghĩ đây chỉ là một hiện tượng của châu Âu.

K. Having given up its heat to the air, the now-cooler water becomes denser and sinks into the North Atlantic by a mile or more in a process oceanographers call thermohaline circulation. This massive column of cascading cold is the main engine powering a deep-water current called the Great Ocean Conveyor that snakes through all the world’s oceans. But as the North Atlantic fills with fresh water, it grows less dense, making the waters carried northward by the Gulf Stream less able to sink. The new mass of relatively fresh water sits on top of the ocean like a big thermal blanket, threatening the thermohaline circulation. That, in turn, could make the Gulf Stream slow or veer southward. At some point, the whole system could simply shut down, and do so quickly. “There is increasing evidence that we are getting closer to a transition point, from which we can jump to a new state.”

Sau khi tỏa nhiệt ra ngoài không khí, nước hiện đã nguội hơn trở nên đậm đặc hơn và chìm xuống Bắc Đại Tây Dương khoảng một dặm hoặc hơn trong một quá trình mà các nhà hải dương học gọi là tuần hoàn nhiệt muối. Cột lạnh xếp tầng khổng lồ này là động cơ chính cung cấp năng lượng cho dòng hải lưu nước sâu gọi là Great Ocean Conveyor ngoằn ngoèo qua tất cả các đại dương trên thế giới. Nhưng khi Bắc Đại Tây Dương chứa đầy nước ngọt, nó trở nên ít đậm đặc hơn, làm cho vùng nước được Dòng Vịnh di chuyển về phía bắc ít có khả năng bị chìm hơn. Khối nước tương đối ngọt mới nằm trên đỉnh đại dương giống như một tấm chăn nhiệt lớn, đe dọa sự lưu thông nhiệt muối. Đổi lại, điều đó có thể làm cho Dòng Vịnh chảy chậm lại hoặc chuyển hướng về phía nam. Tại một số thời điểm, toàn bộ hệ thống có thể tắt một cách đơn giản và thực hiện việc đó một cách nhanh chóng. “Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến một điểm chuyển tiếp, từ đó chúng ta có thể chuyển sang một trạng thái mới.”

2. Câu hỏi

Questions 14-17

Choose the correct letter A, B, C or D.

Write your answers in boxes 14-17 on your answer sheet.

14. The writer uses paintings in the first paragraph to illustrate

  • A. possible future climate change.
  • B. climate change of the last two centuries.
  • C. the river doesn’t freeze in winter anymore.
  • D. how George Washington led his troops across the river.

15. Which of the following do scientists believe to be possible?

  • A. The temperature may drop over much of the Northern Hemisphere.
  • B. It will be colder than 12,000 years ago.
  • C. The entire Northern Hemisphere will be covered in ice.
  • D. Europe will look more like Lapland.

16. Why is it difficult for the poor to survive the next ice age?

  • A. People don’t live in tribes anymore.
  • B. Politics are changing too fast today.
  • C. Abrupt climate change causes people to live off their land.
  • D. Migration has become impossible because of closed borders.

17. Why is continental Europe much warmer than North America in winter?

  • A. Wind blows most of the heat of tropical currents to Europe.
  • B. Europe and North America are at different latitudes.
  • C. The Gulf Stream has stopped yielding heat to the air.
  • D. The Gulf Stream moves north along the east coast of North America.

Questions 18-22

Look at the following statements (Questions 18-22) and the list of people in the box below.

Match each statement with the correct person A-D.

Write the appropriate letter A-D in boxes 18-22 on your answer sheet.

NB You may use any letter more than once.

List of People

  • A    William Curry
  • B    Terrence Joyce
  • C    Bob Dickson
  • D    National Academy of Sciences

18. Most Americans are not prepared for the next ice age.

19. The result of abrupt climate change is catastrophic.

20. The world is not as cold as it used to be.

21. Global warming is closely connected to the ice age.

22. Alerted people to the change of ocean water in a conference.

Questions 23-26

Complete the flowchart below.

Choose NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 23-26 on your answer sheet.

3. Phân tích đáp án

Question 14: Keywords: paintings,  first paragraph to illustrate

Thông tin ở đoạn A: “Most people think these other guys in the boat are rowing, but they are actually pushing the ice away”, nghĩa là Hầu hết mọi người nghĩ rằng những người khác trên thuyền này đang chèo, nhưng họ thực sự đang đẩy băng đi”

ĐÁP ÁN: B

Question 15: Keywords: scientists believe to be possible

Thông tin ở đoạn B: “the next cooling… northern Europe, and northern Asia.”, nghĩa là xu hướng làm mát tiếp theo có thể làm giảm nhiệt độ trung bình 5 độ F trên phần lớn Hoa Kỳ và 10 độ ở Đông Bắc, Bắc Âu và Bắc Á.

ĐÁP ÁN: A

Question 16: Keywords: Why, difficult for the poor, survive the next ice age?

Thông tin ở đoạn F: “last ice age could make survival…tense world of closed borders.”, nghĩa là kỷ băng hà cuối cùng có thể khiến cho sự sống còn của người nghèo trên thế giới trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Trong các thời kỳ nguội lạnh trước đây, toàn bộ các bộ lạc chỉ đơn giản là chọn và di chuyển về phía nam, nhưng lựa chọn đó không hoạt động trong thế giới hiện đại, căng thẳng của các biên giới khép kín.

ĐÁP ÁN: D

Question 17: Keywords: continental Europe, warmer than North America in winter.

Thông tin ở đoạn I: “Because the prevailing… America at the same latitude”, nghĩa là Bởi vì những cơn gió thịnh hành ở Bắc Đại Tây Dương thổi về phía đông, rất nhiều hơi nóng tỏa đến châu Âu. Đó là lý do tại sao nhiều nhà khoa học tin rằng nhiệt độ mùa đông trên Lục địa ấm hơn tới 36 độ F so với nhiệt độ ở Bắc Mỹ ở cùng vĩ độ.

ĐÁP ÁN: A

Question 18: Keywords: Most Americans, not prepared, the next ice age.

Thông tin ở đoạn C: “ says Terrence Joyce… And he is alarmed that Americans have yet to take the threat seriously.”, nghĩa là Terrence Joyce nói… Và anh ấy lo lắng rằng người Mỹ vẫn chưa coi trọng mối đe dọa này.

ĐÁP ÁN: B

Question 19: Keywords: result of abrupt climate change

Thông tin ở đoạn D: ““Abrupt Climate Change: …and incalculable.”. Nghĩa là “Biến đổi khí hậu đột ngột: Những bất ngờ không thể tránh khỏi”, do Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia sản xuất đã xác định chi phí do thiệt hại nông nghiệp chỉ riêng ở mức 100 tỷ USD đến 250 tỷ USD đồng thời dự đoán rằng thiệt hại đối với hệ sinh thái có thể rất lớn và khôn lường.

ĐÁP ÁN: D

Question 20: Keywords: world, not as cold as it used to be.

Thông tin ở đoạn A: “Most people think these… just doesn’t happen anymore.”, nghĩa là Hầu hết mọi người nghĩ rằng những người khác trên thuyền đang chèo, nhưng thực ra họ đang đẩy tảng băng ra xa,” Curry nói, gõ ngón tay lên bản sao của bức tranh. Chắc chắn rồi, tay chèo dẫn đầu đang đập chiếc ủng của mình xuống dòng sông đóng băng. “Tôi lớn lên ở Philadelphia. Địa điểm trong bức tranh này cách đó 30 phút lái xe. Tôi có thể nói với bạn rằng, loại chuyện này không còn xảy ra nữa ”.

ĐÁP ÁN: A

Question 21: Keywords: Global warming, connected to the ice age.

Thông tin ở đoạn G: “says Joyce. ‘ In his cluttered officE…surprising culprit of the next mini-ice age”, nghĩa là Joyce nói. ‘ Trong văn phòng bừa bộn của mình, tràn ngập ánh sáng dịu nhẹ từ buổi sáng đầy sương mù ở Cape Cod, anh ấy giải thích tại sao sự nóng lên như vậy thực sự có thể là thủ phạm đáng ngạc nhiên của kỷ băng hà nhỏ tiếp theo

ĐÁP ÁN: B

Question 22: Keywords: Alerted people, change of ocean water, conference

Thông tin ở đoạn H: “The freshwater trend is major news in ocean-science circles. Bob Dickson, a British oceanographer who sounded an alarm at a February conference”, nghĩa là Xu hướng nước ngọt là tin tức chính trong giới khoa học đại dương. Bob Dickson, một nhà hải dương học người Anh đã gióng lên hồi chuông cảnh báo tại một hội nghị vào tháng Hai

ĐÁP ÁN: C

Question 23: Keywords: Tropical warm water ← Less

Thông tin ở đoạn I: “Normally, the Gulf Stream, … northward, the stream surrenders heat to the air.”, nghĩa là Thông thường, dòng hải lưu Gulf Stream, chứa đầy hơi nóng hấp thụ ở vùng nhiệt đới, uốn khúc dọc theo bờ biển phía đông của Hoa Kỳ và Canada. Khi nó chảy về phía bắc, dòng chảy truyền nhiệt cho không khí. -> có một nhân tố ảnh hưởng đến nước ấm nhiệt đới và làm cho nó thay đổi. Đó là sự truyền nhiệt cho không khí

ĐÁP ÁN: heat

Question 24: Keywords: Water becomes sinks ← Thermohaline circulation

Thông tin ở đoạn K: “Having given up … oceanographers call thermohaline circulation.”, nghĩa là Sau khi tỏa nhiệt ra ngoài không khí, nước hiện đã nguội hơn trở nên đậm đặc hơn và chìm xuống Bắc Đại Tây Dương khoảng một dặm hoặc hơn trong một quá trình mà các nhà hải dương học gọi là tuần hoàn nhiệt muối.

ĐÁP ÁN: denser

Question 25: Keywords: Deep ocean current called

Thông tin ở đoạn K: “Having given up … oceanographers call thermohaline circulation the main engine powering a deep-water current called the Great Ocean Conveyor that snakes through all the world’s oceans.”, nghĩa là động cơ chính cung cấp năng lượng cho dòng hải lưu nước sâu được gọi là Great Ocean Conveyor luồn lách qua tất cả các đại dương trên thế giới.

ĐÁP ÁN: Great Ocean Conveyor

Question 26: Increase, Less dense, hard to sink

Thông tin ở đoạn K: “But as the North Atlantic fills with fresh water, it grows less dense, making the waters carried northward by the Gulf Stream less able to sink.”, nghĩa là Nhưng khi Bắc Đại Tây Dương chứa đầy nước ngọt, nó trở nên ít đậm đặc hơn, làm cho vùng nước được Dòng Vịnh di chuyển về phía bắc ít có khả năng bị chìm hơn.

ĐÁP ÁN: fresh water

Passage 3: The Fruit Book

It’s not every scientist who writes books for people who can’t read. And how many scientists want their books to look as dog-eared as possible? But Pa­tricia Shanley, an ethnobotanist, wanted to give something back. After the poorest people of the Amazon allowed her to study their land and its ecology, she turned her research findings into a picture book that tells the local people how to get a good return on their trees without succumbing to the lure of a quick buck from a logging company. It has proved a big success.

Không phải nhà khoa học nào cũng viết sách cho những người không biết đọc. Và có bao nhiêu nhà khoa học muốn những cuốn sách của họ trông giống tai chó nhất có thể? Nhưng Patricia Shanley, một nhà dân tộc học, muốn đền đáp lại điều gì đó. Sau khi những người nghèo nhất ở Amazon cho phép cô nghiên cứu về đất đai và hệ sinh thái của họ, cô đã biến những phát hiện nghiên cứu của mình thành một cuốn sách tranh hướng dẫn người dân địa phương cách thu được lợi nhuận cao từ cây cối của họ mà không khuất phục trước sự cám dỗ của một khoản tiền nhanh chóng từ một công ty khai thác gỗ. Nó đã chứng minh một thành công lớn.

1. Bản đọc & bản dịch tiếng Việt 

A. The book is called Fruit Trees and Useful Plants in the Lives of Amazonians, but is better known simply as the “fruit book”. The second edition was pro­duced at the request of politicians in western Amazonia. Its blend of hard science and local knowledge on the use and trade of 35 native forest species has been so well received (and well used) that no less a dignitary than Bra­zil’s environment minister, Marina Silva, has written the foreword. “There is nothing else like the Shanley book,” says Adalberto Verissimo, director of the Institute of People and the Environment of the Amazon. “It gives sci­ence back to the poor, to the people who really need it.”

Cuốn sách có tên là Cây ăn quả và cây có ích trong cuộc sống của người dân Amazon, nhưng được biết đến đơn giản hơn với tên gọi “cuốn sách về trái cây”. Ấn bản thứ hai được sản xuất theo yêu cầu của các chính trị gia ở miền tây Amazon. Sự kết hợp giữa khoa học thực tiễn và kiến thức địa phương về việc sử dụng và buôn bán 35 loài rừng bản địa đã được đón nhận nồng nhiệt (và được sử dụng tốt) đến mức không kém gì bộ trưởng môi trường của Brazil, Marina Silva, đã viết lời tựa. Adalberto Verissimo, giám đốc Viện Con người và Môi trường Amazon cho biết: “Không có gì giống như cuốn sách của Shanley. “Nó mang lại khoa học cho người nghèo, cho những người thực sự cần nó.”

B. Shanley’s work on the book began a decade ago, with a plea for help from the Rural Workers’ Union of Paragominas, a Brazilian town whose prosperity is based on exploitation of timber. The union realized that logging companies would soon be knocking on the doors of the caboclos, peasant farmers living on the Rio Capim, an Amazon tributary in the Brazilian state of Para. Isol­ated and illiterate, the caboclos would have little concept of the true value of their trees; communities downstream had already sold off large blocks of forest for a pittance. “What they wanted to know was how valuable the forests were,” recalls Shanley, then a researcher in the area for the Massachusetts-based Woods Hole Research Centre.

Công việc của Shanley cho cuốn sách đã bắt đầu từ một thập kỷ trước, với lời kêu gọi giúp đỡ từ Hiệp hội Công nhân Nông thôn của Paragominas, một thị trấn ở Brazil thịnh vượng dựa trên việc khai thác gỗ. Liên minh nhận ra rằng các công ty khai thác gỗ sẽ sớm gõ cửa những người dân caboclos, những nông dân sống ở Rio Capim, một nhánh của Amazon ở bang Para của Brazil. Bị cô lập và mù chữ, những người dân caboclos sẽ có rất ít khái niệm về giá trị thực sự của những cái cây của họ; các cộng đồng ở hạ lưu đã bán hết những khối rừng lớn để lấy một khoản tiền nhỏ. “Những gì họ muốn biết là rừng có giá trị như thế nào,” Shanley nhớ lại, sau đó là một nhà nghiên cứu trong khu vực của Trung tâm Nghiên cứu Woods Hole có trụ sở tại Massachusetts.

C. The Rural Workers’ Union wanted to know whether harvesting wild fruits would make economic sense in the Rio Capim. “There was a lot of interest in trading non-timber forest products (NTFPs),” Shanley says. At the time, environmental groups and green-minded businesses were promoting the idea. This was the view presented in a seminal paper, Valuation of an Ama­zonian Rainforest, published in Nature in 1989. The researchers had calcu­lated that revenues from the sale of fruits could far exceed those from a one- off sale of trees to loggers. “The union was keen to discover whether it made more sense conserving the forest for subsistence use and the possible sale of fruit, game and medicinal plants, than selling trees for timber,” says Shanley. Whether it would work for the caboclos was far from clear.

Hiệp hội Công nhân Nông thôn muốn biết liệu việc thu hoạch trái cây dại có mang lại lợi ích kinh tế ở Rio Capim hay không. Shanley nói: “Có rất nhiều người quan tâm đến việc buôn bán lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Vào thời điểm đó, các nhóm môi trường và các doanh nghiệp có đầu óc xanh đang thúc đẩy ý tưởng này. Đây là quan điểm được trình bày trong một bài báo chuyên đề, Định giá rừng nhiệt đới Amazon, xuất bản trên tạp chí Nature năm 1989. Các nhà nghiên cứu đã tính toán rằng doanh thu từ việc bán trái cây có thể vượt xa doanh thu từ việc bán cây một lần cho lâm tặc. Shanley cho biết: “Liên minh rất muốn khám phá xem liệu việc bảo tồn rừng để sử dụng cho mục đích sinh hoạt và khả năng bán trái cây, thú săn và cây thuốc có thể có ý nghĩa hơn là bán cây để lấy gỗ hay không”. Liệu nó có hiệu quả với caboclos hay không vẫn chưa rõ ràng.

D. Although Shanley had been invited to work in the Rio Capim, some caboclos were suspicious. “When Patricia asked if she could study my forest,” says Joao Fernando Moreira Brito, “my neighbors said she was a foreigner who’d come to rob me of my trees.” In the end, Moreira Brito, or Mangueira as he is known, welcomed Shanley and worked on her study. His land, an hour’s walk from the Rio Capim, is almost entirely covered with primary forest. A study of this and other tracts of forest selected by the communities enabled Shanley to identify three trees, found throughout the Amazon, whose fruit was much favored by the caboclos: bacuri (Platonia insignis), uxi (Endop- leura uchi) and piquia (Cayucas villosum). The caboclos used their fruits, extracted oils, and knew what sort of wildlife they attracted. But, in the face of aggressive tactics from the logging companies, they had no measure of the trees’ financial worth. The only way to find out, Shanley decided, was to start from scratch with a scientific study. “From a scientific point of view, hardly anything was known about these trees,” she says. But six years of field research yielded a mass of data on their flowering and fruiting behavior. During 1993 and 1994, 30 families weighed everything they used from the forest – game, fruit, fiber, medicinal plants – and documented its source.

Mặc dù Shanley đã được mời đến làm việc ở Rio Capim, một số caboclos vẫn nghi ngờ. Joao Fernando Moreira Brito nói: “Khi Patricia hỏi liệu cô ấy có thể nghiên cứu về khu rừng của tôi không, những người hàng xóm của tôi nói rằng cô ấy là một người nước ngoài đến cướp cây của tôi”. Cuối cùng, Moreira Brito, hay còn gọi là Mangueira, đã chào đón Shanley và nghiên cứu về cô. Vùng đất của anh, cách Rio Capim một giờ đi bộ, gần như được bao phủ hoàn toàn bởi rừng nguyên sinh. Một nghiên cứu về vùng rừng này và các vùng rừng khác do cộng đồng lựa chọn đã giúp Shanley xác định được ba loại cây, được tìm thấy trên khắp Amazon, có quả rất được người caboclos ưa chuộng: bacuri (Platonia insignis), uxi (Endopleura uchi) và piquia ( Cayocas villosum). Caboclos đã sử dụng trái cây của họ, chiết xuất dầu và biết loại động vật hoang dã nào họ thu hút. Tuy nhiên, trước các chiến thuật hung hăng của các công ty khai thác gỗ, họ không thể đo lường được giá trị tài chính của những cái cây. Shanley quyết định rằng cách duy nhất để tìm hiểu là bắt đầu lại từ đầu bằng một nghiên cứu khoa học. Cô nói: “Từ quan điểm khoa học, hầu như không có thông tin gì về những cây này. Nhưng sáu năm nghiên cứu thực địa đã mang lại một lượng lớn dữ liệu về hành vi ra hoa và đậu quả của chúng. Trong suốt năm 1993 và 1994, 30 gia đình đã cân mọi thứ họ sử dụng từ rừng – thú rừng, trái cây, sợi, cây thuốc – và ghi lại nguồn gốc của chúng.

E. After three logging sales and a major fire in 1997, the researchers were also able to study the ecosystem’s reaction to logging and disturbance. They car­ried out a similar, though less exhaustive, study in 1999, this time with 15 families. The changes were striking. Average annual household consumption of forest fruit had fallen from 89 to 28 kilograms between 1993 and 1999. “What we found,” says Shanley, “was that fruit collection could coexist with a certain amount of logging, but after the forest fire it dropped dramatically.” Over the same period, fiber use also dropped from around 20 to 4 kilogrammes. The fire and logging also changed the nature of the caboclo diet. In 1993 most households ate games two or three times a month. By 1999 some were fortunate if they ate games more than two or three times a year.

Sau ba vụ mua bán khai thác gỗ và một trận hỏa hoạn lớn vào năm 1997, các nhà nghiên cứu cũng có thể nghiên cứu phản ứng của hệ sinh thái đối với việc khai thác gỗ và sự xáo trộn. Họ đã thực hiện một nghiên cứu tương tự, mặc dù ít toàn diện hơn, vào năm 1999, lần này với 15 gia đình. Những thay đổi thật ấn tượng. Lượng tiêu thụ trái cây rừng trung bình hàng năm của hộ gia đình đã giảm từ 89 xuống 28kg từ năm 1993 đến năm 1999. Shanley cho biết: “Những gì chúng tôi nhận thấy là việc thu hái trái cây có thể cùng tồn tại với một lượng khai thác nhất định, nhưng sau trận cháy rừng, nó đã giảm đáng kể .” Trong cùng thời gian, việc sử dụng chất xơ cũng giảm từ khoảng 20 xuống còn 4 kg. Lửa và khai thác gỗ cũng làm thay đổi bản chất của chế độ ăn caboclo. Vào năm 1993, hầu hết các hộ gia đình ăn thịt thú rừng hai hoặc ba lần một tháng. Đến năm 1999, một số người đã may mắn nếu họ ăn thịt thú săn hơn hai hoặc ba lần một năm.

F. The loss of certain species of tree was especially significant. Shanley’s team persuaded local hunters to weigh their catch, noting the trees under which the animals were caught. Over the year, they trapped five species of game averaging 232 kilogrammes under piquia trees. Under copaiba, they caught just two species averaging 63 kilograms; and under uxi, four species weighing 38 kilograms. At last, the team was getting a handle on which trees were worth keeping, and which could reasonably be sold. “This showed that selling piqua trees to loggers for a few dollars made little sense,” explains Shanley. “Their local value lies in providing a prized fruit, as well as flowers which attract more game than any other species.”

Việc mất một số loài cây đặc biệt quan trọng. Nhóm của Shanley đã thuyết phục những người thợ săn địa phương cân nhắc sản lượng đánh bắt của họ, lưu ý đến những cái cây mà động vật bị bắt. Trong năm, họ đã bẫy được 5 loài săn mồi nặng trung bình 232 kg dưới những cây piquia. Theo Copaiba, họ chỉ bắt được hai loài nặng trung bình 63kg; và dưới uxi, bốn loài nặng 38 kg. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu đã xác định được cây nào đáng giữ lại và cây nào có thể bán một cách hợp lý. Shanley giải thích: “Điều này cho thấy rằng việc bán cây piquia cho những người khai thác gỗ với giá vài đô la chẳng có ý nghĩa gì. “Giá trị địa phương của chúng nằm ở việc cung cấp một loại trái cây được đánh giá cao, cũng như những bông hoa thu hút nhiều trò chơi hơn bất kỳ loài nào khác.”

G. As a result of these studies, Shanley had to tell the Rural Workers’ Union of Paragominas that the Nature thesis could not be applied wholesale to their community – harvesting NTFPs would not always yield more than timber sales. Fruiting patterns of trees such as uxi were unpredictable, for example. In 1994, one household collected 3,654 uxi fruits; the following year, none at all.

Kết quả của những nghiên cứu này là Shanley đã phải nói với Hiệp hội Công nhân Nông thôn của Paragominas rằng luận án Tự nhiên không thể được áp dụng bán buôn cho cộng đồng của họ – thu hoạch LSNG không phải lúc nào cũng mang lại nhiều hơn doanh thu bán gỗ. Ví dụ, kiểu ra quả của những cây như uxi là không thể đoán trước. Năm 1994, một hộ thu được 3.654 quả uxi; năm sau, không có gì cả.

H. This is not to say that wild fruit trees were unimportant. On the contrary, argues Shanley, they are critical for subsistence, something that is often ig­nored in much of the current research on NTFPs, which tends to focus on their commercial potential. Geography was another factor preventing the Rio Capim caboclos from establishing a serious trade in wild fruit: villa­gers in remote areas could not compete with communities collecting NTFPs close to urban markets, although they could sell them to passing river boats.

Điều này không có nghĩa là cây ăn quả dại không quan trọng. Ngược lại, Shanley lập luận, chúng rất quan trọng đối với sự tồn tại, điều thường bị bỏ qua trong nhiều nghiên cứu hiện tại về LSNG, vốn có xu hướng tập trung vào tiềm năng thương mại của chúng. Vị trí địa lý là một yếu tố khác ngăn cản những người Caboclos ở Rio Capim thiết lập một hoạt động buôn bán trái cây dại nghiêm túc: dân làng ở vùng sâu vùng xa không thể cạnh tranh với các cộng đồng thu hái LSNG gần các chợ đô thị, mặc dù họ có thể bán chúng cho những chiếc thuyền đi ngang qua sông.

I. But Shanley and her colleagues decided to do more than just report their results to the union. Together with two of her research colleagues, Shanley wrote the fruit book. This, the Bible and a publication on medicinal plants co-authored by Shanley and designed for people with minimal literacy skills are about the only books you will see along this stretch of the Rio Capim. The first print ran to only 3,000 copies, but the fruit book has been remarkably influential, and is used by colleges, peasant unions, industries and the caboclos themselves. Its success is largely due to the fact that people with poor literacy skills can understand much of the information it contains about the non-timber forest products, thanks to its illustrations, anecdotes, stories and songs. “The book doesn’t tell people what to do,” says Shanley, “but it does provide them with choices.” The caboclos who have used the book now have a much better understanding of which trees to sell to the loggers, and which to protect.

Nhưng Shanley và các đồng nghiệp của cô đã quyết định làm nhiều hơn là chỉ báo cáo kết quả của họ cho công đoàn. Cùng với hai đồng nghiệp nghiên cứu của mình, Shanley đã viết cuốn sách về trái cây. Cuốn sách này, Kinh thánh và một ấn phẩm về cây thuốc do Shanley đồng tác giả và được thiết kế cho những người có kỹ năng đọc viết tối thiểu là những cuốn sách duy nhất bạn sẽ thấy dọc theo đoạn đường này của Rio Capim. Bản in đầu tiên chỉ có 3.000 bản, nhưng cuốn sách về trái cây đã có ảnh hưởng đáng kể và được sử dụng bởi các trường cao đẳng, hiệp hội nông dân, các ngành công nghiệp và chính những người caboclos. Thành công của nó phần lớn là do những người có trình độ đọc viết kém có thể hiểu được phần lớn thông tin về lâm sản ngoài gỗ mà nó chứa đựng nhờ các hình ảnh minh họa, giai thoại, câu chuyện và bài hát. Shanley nói: “Cuốn sách không bảo mọi người phải làm gì, nhưng nó cung cấp cho họ những lựa chọn.” Những người caboclos đã sử dụng cuốn sách giờ đã hiểu rõ hơn nhiều về việc nên bán cây nào cho lâm tặc và cây nào cần được bảo vệ.

2. Câu hỏi 

Questions 27-32

Reading Passage 3 has nine paragraphs A-I.

Which paragraph contains the following information?

Write the correct letter A-I in boxes 27-32 on your answer sheet

27. A description of Shanley’s initial data collection

28. Why a government official also contributes to the book

29. Reasons why the community asked Shanley to conduct the research

30. Reference to the starting point of her research

31. Two factors that alter food consumption patterns

32. Why the book is successful

Questions 33-40

Complete the summary below.

Use NO MORE THAN THREE WORDS from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 33-40 on your answer sheet.

Forest fire has caused local villagers to consume less:

  • 33 ……………………………. 
  • 34 ……………………………

Game

  • There is the least amount of game hunted under 35  …………………………….  yield is also 36  …………………………….  . Thus, it is more reasonable to keep 37 …………………………….   .
  • All the trees can also be used for 38 besides selling them to log­gers. But this is often ignored, because most researchers usually focus on the 39  …………………………….  of the trees.
  • The purpose of the book:
  • To give information about 40 ……………………………. .

3. Phân tích đáp án 

Question 27: Keywords: description of Shanley’s initial data collection

Thông tin ở đoạn D: “The only way to find out, … these trees,” she says.”, nghĩa là Shanley quyết định rằng cách duy nhất để tìm hiểu là bắt đầu lại từ đầu bằng một nghiên cứu khoa học. Cô nói: “Từ quan điểm khoa học, hầu như không có thông tin gì về những cây này.

ĐÁP ÁN: D

Question 28: Keywords: Why, government official, contributes to the book

Thông tin ở đoạn A: “Its blend of hard science … Brazil’s environment minister, Marina Silva, has written the foreword.” nghĩa là Sự kết hợp giữa khoa học chuyên sâu và kiến thức địa phương về việc sử dụng và buôn bán 35 loài rừng bản địa đã được đón nhận nồng nhiệt (và được sử dụng tốt) đến mức không kém gì bộ trưởng môi trường của Brazil, Marina Silva, đã viết lời tựa.

ĐÁP ÁN: A

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
a government official Brazil’s environment minister

Question 29: Keywords: why the community, asked Shanley to conduct the research

Thông tin ở đoạn B: “ The Rural Workers’ Union wanted to know whether harvesting wild fruits would make economic sense in the Rio Capim”, nghĩa là Hiệp hội Công nhân Nông thôn muốn biết liệu thu hoạch trái cây hoang dã có ý nghĩa kinh tế ở Rio Capim hay không

ĐÁP ÁN: C

Question 30: Keywords: Reference to the starting point

Thông tin ở đoạn B: “Shanley’s work on the … on exploitation of timber”, nghĩa là Công việc của Shanley cho cuốn sách bắt đầu từ một thập kỷ trước, với lời kêu gọi giúp đỡ từ Hiệp hội Công nhân Nông thôn của Paragominas, một thị trấn ở Brazil thịnh vượng dựa trên việc khai thác gỗ.

ĐÁP ÁN: B

Question 31: Keywords: Two factors, alter food consumption patterns

Thông tin ở đoạn E: “The fire and logging also changed the nature of the caboclo diet.”, nghĩa là Lửa và khai thác gỗ cũng làm thay đổi bản chất của chế độ ăn caboclo.

ĐÁP ÁN: E

Question 32: Keywords: Why the book, successful

Thông tin ở đoạn I: “ Its success is largely due to the fact … and songs” nghĩa là Thành công của cuốn sách phần lớn là do những người có trình độ đọc viết kém có thể hiểu được phần lớn thông tin về lâm sản ngoài gỗ mà nó chứa đựng, nhờ các hình ảnh minh họa, giai thoại, câu chuyện và bài hát của nó.

ĐÁP ÁN: I

Question 33, 34: Keywords: (forest) fruit/Fibre

Thông tin vẫn ở đoạn E: “ After three logging sales … Over the same period, fibre use also dropped.”, nghĩa là Sau ba lần bán gỗ và một trận hỏa hoạn lớn… Mức tiêu thụ trái cây rừng trung bình hàng năm của hộ gia đình đã giảm từ 89 xuống 28kg từ năm 1993 đến 1999… Trong cùng thời kỳ, việc sử dụng chất xơ cũng giảm

ĐÁP ÁN: (forest) fruit/Fibre

Question 35: Keywords: least amount of game hunted

Thông tin ở đoạn F: “Under copaiba, they caught just two species averaging 63 kilogrammes; and under uxi, four species weighing 38 kilogrammes.”, nghĩa là Theo Copaiba, họ chỉ bắt được hai loài nặng trung bình 63kg; và dưới uxi, bốn loài nặng 38 kg.

ĐÁP ÁN: uxi

Question 36: Keywords: yield

Thông tin ở đoạn G: “harvesting NTFPs would … for example.”, nghĩa là thu hoạch LSNG không phải lúc nào cũng mang lại nhiều hơn doanh thu bán gỗ. Ví dụ, kiểu ra quả của những cây như uxi là không thể đoán trước.

ĐÁP ÁN: unpredictable

Question 37: Keywords: more reasonable to keep

Thông tin ở đoạn F: “ the team was getting…dollars made little sense”. Nghĩa là nhóm nghiên cứu đang tìm hiểu xem cây nào đáng để giữ lại và cây nào có thể bán một cách hợp lý. “ Điều này cho thấy việc bán cây piquia cho lâm tặc với giá vài đô la chẳng có ý nghĩa gì

ĐÁP ÁN: piquia (trees)

Question 38: Keywords: Saurischian and ornithischian dinosaurs

Thông tin ở đoạn C: “it made more sense … than selling trees for timber” nghĩa là việc bảo tồn rừng để sử dụng tự cung tự cấp và có thể bán trái cây, thú săn và cây thuốc có ý nghĩa hơn là bán cây để lấy gỗ

ĐÁP ÁN: subsistence

Question 39.  Keywords: ignored, because most researches usually focus on

Thông tin ở đoạn H: “ On the contrary, argues Shanley … focus on their commercial potential.”, nghĩa là Ngược lại, Shanley lập luận, chúng rất quan trọng đối với sinh kế, điều thường bị bỏ qua trong nhiều nghiên cứu hiện tại về LSNG, vốn có xu hướng tập trung vào tiềm năng thương mại của chúng.

ĐÁP ÁN: commercial potential

Question 40.  Keywords: give information about

Thông tin ở đoạn A: “Its blend of hard science … has been well received.. There was a lot of interest in trading non-timber forest products (NTFPs)”, nghĩa là Ornithopods, hay còn gọi là “chân chim”, cả lớn và nhỏ, có thể đi hoặc chạy bằng hai chân sau dài, giữ thăng bằng cơ thể bằng cách giữ chặt đuôi khỏi mặt đất phía sau… Đã có nhiều quan tâm đến việc buôn bán lâm sản ngoài gỗ (LSNG)

ĐÁP ÁN: non-timber forest products/NTFPs

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
give information about hard science and local knowledge
HỌC IELTS ONLINE QUA ZOOM,
CÁCH HỌC HIỆU QUẢ CỦA NGƯỜI HIỆN ĐẠI
Để cô Thanh Loan giúp bạn đánh giá đầu vào chi tiết, xây dựng lộ trình học tập cá nhân hoá phù hợp với đầu vào và mục tiêu bạn mong muốn
0
    0
    GIỎ HÀNG
    Giỏ hàng trốngQuay lại
      Sử dụng