Dịch đề & phân tích đáp án IELTS Reading trong Actual Test Vol 3 Test 4

Passage 1: Otters

1. Bài đọc & bản dịch tiếng Việt

A

Otters are semiaquatic (or in the case of the sea otter, aquatic) mammals. They are members of the Mustelid family which includes badgers, polecats, martens, weasels, stoats and minks, and have inhabited the earth for the last 30 million years and over the years have undergone subtle changes to the carnivore bodies to exploit the rich aquatic environment. Otters have long thin bodies and short legs—ideal for pushing dense undergrowth or hunting in tunnels. An adult male may be up to 4 feet long and 30 pounds. Females are smaller, around 16 pounds typically. The Eurasian otter’s nose is about the smallest among the otter species and has a characteristic shape described as a shallow “W”. An otter’s tail (or rudder, or stern) is stout at the base and tapers towards the tip where it flattens. This forms part of the propulsion unit when swimming fast underwater. Otter fur consists of two types of hair: stout guard hairs which form a waterproof outer covering, and under-fur which is dense and fine, equivalent to an otter’s thermal underwear. The fur must be kept in good condition by grooming. Sea water reduces the waterproofing and insulating qualities of otter fur when salt water gets in the fur. This is why freshwater pools are important to otters living on the coast. After swimming, they wash the salts off in the pools and then squirm on the ground to rub dry against vegetation.

Rái cá là động vật bán thuỷ (hoặc nếu là rái cá biển thì nó là loài sống dưới nước) thuộc loài động vật có vú. Chúng là thành viên của họ chồn Mustelid bao gồm con lửng, chồn hôi, chồn mactet, chồn, chồn Ecmin và chồn vizon, chúng đã sinh sống trên trái đất trong 30 triệu năm qua và trong những năm qua đã trải qua những thay đổi tinh vi đối với cơ thể động vật ăn thịt để khai thác môi trường nước phong phú . Rái cá có cơ thể dài gầy và chân ngắn – rất lý tưởng để đẩy những bụi cây rậm rạp hoặc săn bắt trong các đường hầm. Một con đực trưởng thành có thể dài tới 4 feet và nặng 30 pounds. Con cái nhỏ hơn, thường khoảng 16 pounds. Mũi rái cá Á-Âu là loại nhỏ nhất trong số các loài rái cá và có hình dạng đặc trưng được mô tả là chữ “W” nông. Đuôi rái cá (hoặc đuôi lái, hoặc đuôi tàu) rất cứng cáp ở phần dưới và thuôn nhọn về phía chóp nơi nó dẹt ra. Đây là một phần của bộ phận đẩy khi bơi nhanh dưới nước. Lông rái cá bao gồm hai loại: lớp lông bảo vệ chắc chắn tạo thành lớp phủ bên ngoài không thấm nước và lớp lông bên dưới dày và mịn, như lớp lót giữ nhiệt của rái cá. Bộ lông phải được giữ trong tình trạng tốt bằng cách chải chuốt. Nước biển làm giảm khả năng chống thấm và cách điện của lông rái cá khi nước muối thấm vào lông. Đây là lý do tại sao các hồ nước ngọt rất quan trọng đối với rái cá sống trên bờ biển:. Sau khi bơi lội, chúng rửa sạch muối trong các hồ bơi và sau đó bò ngoằn ngoèo trên mặt đất để chà khô với thảm thực vật.

Scent is used for hunting on land, for communication and for detecting danger. Otterine sense of smell is likely to be similar in sensitivity to dogs. Otters have small eyes and are probably short-sighted on land. But they do have the ability to modify the shape of the lens in the eye to make it more spherical, and hence overcome the refraction of water. In clear water and good light, otters can hunt fish by sight. The otter’s eyes and nostrils are placed high on its head so that it can see and breathe even when the rest of the body is submerged. The long whiskers growing around the muzzle are used to detect the presence of fish. They detect regular vibrations caused by the beat of the fish’s tail as it swims away. This allows otters to hunt even in very murky water. Underwater, the otter holds its legs against the body, except for steering, and the hind end of the body is flexed in a series of vertical undulations. River otters have webbing which extends for much of the length of each digit, though not to the very end. Giant otters and sea otters have even more prominent webs, while the Asian short-clawed otter has no webbing—they hunt for shrimps in ditches and paddy fields so they don’t need the swimming speed. Otter ears are protected by valves which close them against water pressure.

Đánh hơi được sử dụng để săn mồi trên cạn, cho việc giao tiếp và phát hiện nguy hiểm. Khứu giác của rái cá có khả năng nhạy cảm tương tự như chó. Rái cá có đôi mắt nhỏ và có thể có tầm nhìn ngắn trên cạn. Nhưng chúng có khả năng thay đổi hình dạng của thấu kính trong mắt để làm cho nó dạng hình cầu hơn, và do đó khắc phục được sự khúc xạ của nước. Ở vùng nước trong và ánh sáng tốt, rái cá có thể săn cá thông qua ánh sáng. Mắt và mũi của rái cá được đặt cao trên đầu để nó có thể nhìn và thở ngay cả khi phần còn lại của cơ thể bị chìm dưới nước. Còn bộ râu dài mọc xung quanh mõm được dùng để phát hiện sự hiện diện của cá. Chúng phát hiện ra những rung động liên tục do nhịp đập của đuôi cá khi nó bơi ra xa. Điều này cho phép rái cá săn mồi ngay cả trong vùng nước tối tăm. Ở dưới nước, rái cá giữ hai chân của nó chống lại cơ thể, ngoại trừ tay lái, và đầu sau của cơ thể được chuyển động dưới dạng sóng theo đường thẳng đứng. Rái cá sông có màng kéo dài phần lớn chiều dài của mỗi ngón chân ngón tay, mặc dù không kéo dài đến cuối cùng. Rái cá khổng lồ và rái cá biển thậm chí còn có màng nổi rõ hơn, trong khi rái cá móng ngắn châu Á không có màng—chúng săn tôm trong mương và ruộng lúa nên không cần bơi nhanh. Tai rái cá được bảo vệ bởi các van đóng giúp chúng chống lại với áp lực nước.

A number of constraints and preferences limit suitable habitats for otters. Water is a must and the rivers must be large enough to support a healthy population of fish. Being such shy and wary crea-tures, they will prefer territories where man’s activities do not impinge greatly. Of course, there must also be no other otter already in residence—this has only become significant again recently as populations start to recover. A typical range for a male river otter might be 25 km of river, a female’s range less than half this. However, the productivity of the river affects this hugely and one study found male ranges between 12 and 80km. Coastal otters have a much more abundant food supply and ranges for males and females may be just a few kilometers of coastline. Because male ranges are usually larger, a male otter may find his range overlaps with two or three females. Otters will eat anything that they can get hold of—there are records of sparrows and snakes and slugs being gobbled. Apart from fish the most common prey are crayfish, crabs and water birds. Small mammals are occasionally taken, most commonly rabbits but sometimes even moles.

Một số kìm hãm và di chuyển đã làm hạn chế môi trường sống thích hợp cho rái cá. Nước là điều bắt buộc và các con sông phải đủ lớn để hỗ trợ một đàn cá khỏe mạnh. Là một loài nhút nhát và cảnh giác như vậy, chúng sẽ thích những lãnh thổ mà có ít sự tác động của con người nhất. Tất nhiên, cũng không được có con rái cá nào khác đang cư trú—điều này chỉ trở nên quan trọng trở lại gần đây khi các quần thể bắt đầu phục hồi. Phạm vi điển hình của rái cá đực ở sông có thể là 25km sông, phạm vi của rái cá cái nhỏ hơn một nửa. Tuy nhiên, năng suất của dòng sông ảnh hưởng rất lớn đến điều này và một nghiên cứu cho thấy nam giới có phạm vi từ 12 đến 80 km. Rái cá ven biển có nguồn cung cấp thức ăn phong phú hơn nhiều và phạm vi của rái cá đực và cái có thể chỉ cách bờ biển vài km. Bởi vì phạm vi của con đực thường lớn hơn, nên một con rái cá đực có thể thấy phạm vi của mình trùng với hai hoặc ba con cái. Rái cá sẽ ăn bất cứ thứ gì mà chúng có thể cầm được—có ghi chép về việc chim sẻ, rắn và ốc sên bị nuốt chửng. Ngoài cá, con mồi phổ biến nhất là tôm càng, cua và chim nước. Động vật có vú nhỏ đôi khi bị bắt, phổ biến nhất là thỏ nhưng đôi khi có cả chuột chũi.

Eurasian otters will breed any time where food is readily available. In places where condition is more severe, Sweden for example where the lakes are frozen for much of winter, cubs are born in Spring. This ensures that they are well grown before severe weather returns. In the Shetlands, cubs are born in summer when fish is more abundant. Though otters can breed every year, some do not. Again, this depends on food availability. Other factors such as food range and quality of the female may have an effect. Gestation for Eurasian otter is 63 days, with the exception of North American river otter whose embryos may undergo delayed implantation.

Rái cá Á-Âu sẽ sinh sản bất cứ lúc nào có sẵn thức ăn. Ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt hơn, chẳng hạn như Thụy Điển, nơi các hồ đóng băng trong phần lớn mùa đông, đàn con sinh ra vào mùa xuân. Điều này đảm bảo rằng chúng được phát triển tốt trước khi thời tiết khắc nghiệt quay trở lại. Ở Shetlands, đàn con được sinh ra vào mùa hè khi mà nguồn cá phong phú. Mặc dù rái cá có thể sinh sản hàng năm, một số thì không. Một lần nữa, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của thực phẩm. Các yếu tố khác như phạm vi thức ăn và chất lượng của con cái có thể có ảnh hưởng. Thời gian mang thai của rái cá Á-Âu là 63 ngày, ngoại trừ rái cá sông Bắc Mỹ, phôi của chúng có thể trải qua quá trình làm tổ chậm.

Otters normally give birth in more secure dens to avoid disturbances. Nests are lined with bedding (reeds, waterside plants, grass) to keep the cubs warm while mummy is away feeding. Litter Size varies between 1 and 5 (2 or 3 being the most common). For some unknown reason, coastal otters tend to produce smaller litters. At five weeks they open their eyes—a tiny cub of 700g. At seven weeks they’re weaned onto solid food. At ten weeks they leave the nest, blinking into daylight for the first time. After three months they finally meet the water and learn to swim. After eight months they are hunting, though the mother still provides a lot of food herself. Finally, after nine months she can chase them all away with a clear conscience, and relax—until the next fella shows up.

Rái cá thường sinh con ở những ổ an toàn hơn để tránh bị quấy rầy. Tổ được lót bằng thành nhiều lớp (sậy, cây ven sông, cỏ) để giữ ấm cho đàn con khi mẹ đi kiếm ăn. Kích thước của ổ rơm thay đổi từ 1 đến 5 (2 hoặc 3 là phổ biến nhất). Vì một số lý do không rõ, rái cá ven biển có xu hướng làm những ổ rơm nhỏ hơn. Khi được 5 tuần, chúng mở mắt – một chú con nhỏ xíu khoảng 700g. Sau bảy tuần, chúng cai sữa chuyển qua thức ăn đặc. Sau mười tuần, chúng rời tổ, lần đầu tiên tiếp xúc trước ánh sáng ban ngày. Sau ba tháng, cuối cùng chúng cũng gặp nước và học bơi. Sau tám tháng, chúng đi săn, mặc dù cá mẹ vẫn tự cung cấp nhiều thức ăn. Cuối cùng, sau chín tháng, bà mẹ có thể rời xa tất cả bọn chúng với một lương tâm thanh thản, và thư giãn—cho đến khi người bạn trai tiếp theo xuất hiện.

F 

The plight of the British otter was recognised in the early 60s, but it wasn’t until the late 70s that the chief cause was discovered. Pesticides, such as dieldrin and aldrin, were first used in 1955 in agriculture and other industries—these chemicals are very persistent and had already been recognised as the cause of huge declines in the population of peregrine falcons, sparrowhawks and other predators. The pesticides entered the river systems and the food chain—micro-organisms, fish and finally otters, with every step increasing the concentration of the chemicals. From 1962 the chemicals were phased out, but while some species recovered quickly, otter numbers did not—and continued to fall into the 80s. This was probably due mainly to habitat destruction and road deaths. Acting on populations fragmented by the sudden decimation in the 50s and 60s, the loss of just a handful of otters in one area can make an entire population enviable and spell the end.

Hoàn cảnh của rái cá Anh đã được ghi nhận vào đầu những năm 60, nhưng mãi đến cuối những năm 70, nguyên nhân chính mới được phát hiện. Thuốc trừ sâu, chẳng hạn như dieldrin và aldrin, lần đầu tiên được sử dụng trong năm 1955 trong nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác – những hóa chất này rất bền và đã được công nhận là nguyên nhân của sự sụt giảm lớn trong quần thể chim ưng, chim sẻ và các loài săn mồi khác. Thuốc trừ sâu xâm nhập vào hệ thống sông ngòi và chuỗi thức ăn—vi sinh vật, cá và cuối cùng là rái cá, với mỗi bước tăng nồng độ của hóa chất. Từ năm 1962, các chất hóa học đã bị loại bỏ dần, nhưng trong khi một số loài phục hồi nhanh chóng, số lượng rái cá thì không—và tiếp tục giảm trong những năm 80. Điều này có lẽ chủ yếu là do sự phá hủy môi trường sống và những cái chết trên hành trình. Hành động trên quần thể bị phân mảnh bởi sự suy tàn đột ngột trong những năm 50 và 60, sự mất mát của một số ít rái cá trong một khu vực có thể làm cho toàn bộ loài khác trở nên ganh tị và thèm muốn.

Otter numbers are recovering all around Britain—populations are growing again in the few areas where they had remained and have expanded from those areas into the rest of the country. This is almost entirely due to law and conservation efforts, slowing down and reversing the destruction of suitable otter habitat and reintroductions from captive breeding programs. Releasing captive-bred otters is seen by many as a last resort. The argument runs that where there is no suitable habitat for them they will not survive after release and when there is suitable habitat;, natural populations should be able to expand into the area. However, reintroducing animals into a fragmented and fragile population may add just enough impetus for it to stabilize and expand, rather than die out. This is what the Otter Trust accomplished in Norfolk, where the otter population may have been as low as twenty animals at the beginning of the 1980s. The Otter Trust has now

Một lượng rái cá đang hồi phục trên khắp nước Anh – số lượng đang tăng trưởng trở lại ở một số khu vực nơi chúng đã ở lại và đã được mở rộng từ các khu vực đó sang phần còn lại của đất nước. Điều này gần như hoàn toàn là do các nỗ lực luật pháp và bảo tồn, làm chậm lại và đảo ngược sự phá hủy môi trường sống thích hợp của rái cá và tái sản xuất từ ​​các chương trình nhân giống nuôi nhốt. Thả rái cá nhân giống được nhiều người coi là phương án cuối cùng. Lập luận cho rằng, nơi không có môi trường sống phù hợp cho chúng, chúng sẽ không tồn tại sau khi được thả và khi có môi trường sống thích hợp, các quần thể tự nhiên sẽ có thể mở rộng ra khu vực. Tuy nhiên, việc đưa động vật trở lại một quần thể bị phân mảnh và mong manh có thể tạo thêm động lực vừa đủ để nó ổn định và mở rộng, thay vì tuyệt chủng. Đây là điều mà Otter Trust đã đạt được ở Norfolk, nơi quần thể rái cá có thể chỉ còn 20 con vào đầu những năm 1980. Otter Trust hiện có

2. Câu hỏi 

Questions 1-9

Reading Passage 1 has seven paragraphs, A-G.

Which paragraph contains the following information?

Write the correct letter, A-G, in boxes 1-9 on your answer sheet.

NB You may use any letter more than once.

1. A description of how otters regulate vision underwater

2. The fit-for-purpose characteristics of otter’s body shape

3. A reference to an underdeveloped sense

4. An explanation of why agriculture failed in otter conservation efforts

5. A description of some of the otter’s social characteristics

6. A description of how baby otters grow

7. The conflicted opinions on how to preserve

8. A reference to a legislative act

9. An explanation of how otters compensate for heat

Questions 10-13

Answer the questions below.

Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 10-13 on your answer sheet.

10. What affects the outer fur of otters?

11. What skill is not necessary for Asian short-clawed otters?

12. Which type of otters has the shortest range?

13. Which type of animals do otters hunt occasionally?

3. Phân tích đáp án 

Question 1: Keywords: otters, regulate, vision

Thông tin ở đoạn thứ B: “but they have the ability to modify the shape…water”, nghĩa là nhưng chúng có khả năng thay đổi hình dạng của nhãn cầu trong mắt để làm nó trở nên tròn hơn, và vì vậy nó nhìn được mặc dù sự khúc xạ của nước.

ĐÁP ÁN: B

Question 2: Keywords: fit-for-purpose, otter’s body shape

Thông tin ở đoạn A: “Otters have long thin body…tunnels”, nghĩa là Rái cá có cơ thể dài thuôn và những chân ngắn – lý tưởng để đẩy được những bụi cây thấp mọc dày đặc và săn mồi trong những cái hang. Và “An otter’s tail….fast under water” nghĩa là đuôi của rái cá rất khỏe, và thuôn về phần đầu dẹt. Điều này tạo nên 1 phần của lực đẩy khi chúng bơi nhanh dưới nước.

ĐÁP ÁN: A

Question 3: Keywords: underdeveloped sense

Thông tin ở đoạn B: “Otters have small eyes and probably short-sighted” nghĩa là Rái cá có mắt nhỏ và có thể là cận thị.

ĐÁP ÁN: B

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
underdeveloped short-sighted

Question 4: Keywords: why, agriculture, failed

Thông tin ở đoạn F: “Pesticides, such as dieldrin and aldrin, were…other industries”, nghĩa là thuốc trừ sâu, như là dieldrin và aldrin, được sử dụng vào năm 1955 trong nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác. Và “while some species recovered quickly, otter numbers…in the 80s” nghĩa là trong khi 1 vài loại sinh vật tăng trở lại nhanh chóng, số lượng rái cá lại không như vậy, và tiếp tục giảm đi vào những năm 80.

ĐÁP ÁN: F

Question 5: Keywords: some, otters’ social characteristics

Thông tin ở đoạn C: “ The role of a disseminator …. the company’s vision and purpose.”, nghĩa là vai trò của người phổ biến yêu cầu các nhà quản lý thông báo cho nhân viên về những thay đổi ảnh hưởng đến họ và tổ chức. Họ cũng truyền đạt tầm nhìn và mục đích của công ty.

ĐÁP ÁN: C

Question 6: Keywords: how, baby otters, grow

Thông tin ở đoạn E: “At five weeks they open their eyes”. Được 5 tuần tuổi chúng mờ mắt. Và “At seven weeks they’re weaned on to solid food” nghĩa là Được 7 tuần thì chúng được tập cho ăn đồ ăn cứng,…

ĐÁP ÁN: E

Question 7: Keywords: conflicted opinions, how to preserve

Thông tin ở đoạn G: “The argument runs that where there is….the area”. nghĩa là Tranh cãi xung quanh vấn đề là nơi không có môi trường sống thích hợp, chúng sẽ không thể sinh tồn sau khi được thả ra, và nơi mà có môi trường sống thích hợp, số lượng tự nhiên nên nên mở rộng ra toàn khu vực.

ĐÁP ÁN: G

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
conflicted opinions arguments

Question 8: Keywords: legislative act

Thông tin ở đoạn G: “This is almost entirely due to law and conservation efforts” nghĩa là điều này chủ yếu là do những điều luật và nỗ lực bảo tồn.

ĐÁP ÁN: G

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
legislative act law

Question 9: Keywords: how, otters, compensate, heat loss

Thông tin ở đoạn A: “and under-fur which is dense and fine, equivalent to and otter’s thermal underwear” nghĩa là vùng lông dưới rất dày và đẹp, giống như 1 chiếc quần giữ nhiệt cho con rái cá.

ĐÁP ÁN: A

Question 10: Keywords: what, affects, outer fur

Thông tin ở đoạn A: “Seawater reduces the waterproofing and insulating qualities….gets in the fur” nghĩa là nước biển làm giảm tính chất chống nước và cách nhiệt của lông rái cá khi nước biển thấm vào lông.

ĐÁP ÁN: seawater

Question 11: Keywords: skill, not necessary, Asian short-clawed otters

Thông tin ở đoạn B: “Asian short- clawed otters have no webbing…swimming speed”, nghĩa là Rái cá móng vuốt ngắn thì không có màng nối giữa các móng vuốt, chúng săn tôm ở những đầm và cánh đồng vì vậy chúng không cần tốc độ bơi nhanh.

ĐÁP ÁN: swimming speed

Question 12: Keywords: type of otters, shortest range

Thông tin ở đoạn C: “Coastal otters have a much more abundant food….few kilometers of coastline” nghĩa là những con rái cá ở gần bờ biển thì đồ ăn phong phú hơn, và phạm vi sống của cả con đực và con cái chỉ trong vòng vài ki lô mét bò biển.

ĐÁP ÁN: Coastal otters

Question 13: Keywords: type of animals, otters hunt, occasionally

Thông tin ở đoạn C: “Small mammals are occasionally taken, and most commonly rabbits but sometimes even moles”, nghĩa là những con động vật có vú nhỏ đôi khi cũng bị ăn, thông thường nhất là thỏ nhưng đôi khi thậm chỉ cả chuột chũi

ĐÁP ÁN: small mammals

Passage 2: Wealth in A Cold Climate 

Latitude is crucial to a nation’s economic strength.

Vĩ độ là điều cốt lõi đối với sức mạnh kinh tế của một quốc gia.

1. Bản đọc & bản dịch tiếng Việt 

Dr William Masters was reading a book about mosquitoes when inspiration struck. “There was this anecdote about the great yellow fever epidemic that hit Philadelphia in 1793,” Masters recalls. “This epidemic decimated the city until the first frost came.” The inclement weather froze out the insects, allowing Philadelphia to recover.

Tiến sĩ William Masters đang đọc một cuốn sách về muỗi thì nguồn cảm hứng ập đến. Masters nhớ lại: “Có một giai thoại về trận đại dịch sốt vàng da tấn công Philadelphia vào năm 1793. Dịch bệnh này đã tàn phá thành phố cho đến khi đợt băng giá đầu tiên đến. Thời tiết khắc nghiệt khiến côn trùng chết cóng, cho phép Philadelphia phục hồi.

If weather could be the key to a city’s fortunes, Masters thought, then why not to the historical fortunes of nations? And could frost lie at the heart of one of the most enduring economic mysteries of all – why are almost all the wealthy, industrialized nations to be found at latitudes above 40 degrees? After two years of research, he thinks that he has found a piece of the puzzle. Masters, an agricultural economist from Purdue University in Indiana, and Margaret McMillan at Tufts University, Boston, show that annual frosts are among the factors that distinguish rich nations from poor ones. Their study is published this month in the Journal of Economic Growth. The pair speculate that cold snaps have two main benefits — they freeze pests that would otherwise destroy crops, and also freeze organisms, such as mosquitoes, that carry disease. The result is agricultural abundance and a big workforce.

Nếu thời tiết có thể là chìa khóa cho vận mệnh của một thành phố, Masters nghĩ, thì tại sao lại không phải là vận mệnh lịch sử của các quốc gia? Và liệu sương giá có thể là chìa khoá của những bí ẩn kinh tế lâu dài nhất – tại sao hầu hết các quốc gia giàu có, công nghiệp hóa đều được tìm thấy ở các vĩ độ trên 40 độ? Sau hai năm nghiên cứu, anh ấy nghĩ rằng mình đã tìm ra một mảnh ghép. Masters, một nhà kinh tế nông nghiệp từ Đại học Purdue ở Indiana, và Margaret McMillan tại Đại học Tufts, Boston, chỉ ra rằng sương giá hàng năm là một trong những yếu tố phân biệt các quốc gia giàu có với các quốc gia nghèo. Nghiên cứu của họ được công bố trong tháng này trên Tạp chí Tăng trưởng Kinh tế. Cặp đôi suy đoán rằng những đợt rét có hai lợi ích chính – chúng đóng băng các loài gây hại có thể phá hoại mùa màng và cũng đóng băng các sinh vật, chẳng hạn như muỗi, mang mầm bệnh. Kết quả là sự phong phú về nông nghiệp và một lực lượng lao động lớn.

The academics took two sets of information. The first was average income for countries, the second climate data from the University of East Anglia. They found a curious tally between the sets. Countries having five or more frosty days a month are uniformly rich, those with fewer than five are impoverished. The authors speculate that the five-day figure is important; it could be the minimum time needed to kill pests in the soil. Masters says: “For example, Finland is a small country that is growing quickly, but Bolivia is a small country that isn’t growing at all. Perhaps climate has something to do with that.” In fact, limited frosts bring huge benefits to farmers. The chills kill insects or render them inactive; cold weather slows the break-up of plant and animal material in the soil, allowing it to become richer; and frosts ensure a build-up of moisture in the ground for spring, reducing dependence on seasonal rains. There are exceptions to the “cold equals rich” argument. There are well-heeled tropical places such as Hong Kong and Singapore, a result of their superior trading positions. Likewise, not all European countries are moneyed – in the former communist colonies, economic potential was crushed by politics.

Các học giả lấy hai bộ thông tin. Đầu tiên là thu nhập trung bình của các quốc gia, dữ liệu khí hậu thứ hai từ Đại học East Anglia. Họ tìm thấy một sự kiểm đếm kỳ lạ giữa các bộ. Các quốc gia có năm ngày băng giá trở lên trong một tháng đều giàu có, những quốc gia có ít hơn năm ngày là nghèo khó. Các tác giả suy đoán rằng con số năm ngày là quan trọng; đó có thể là thời gian tối thiểu cần thiết để tiêu diệt các loài gây hại trong đất. Masters nói: “Ví dụ, Phần Lan là một quốc gia nhỏ đang phát triển nhanh chóng, nhưng Bolivia là một quốc gia nhỏ không phát triển chút nào. Có lẽ khí hậu có liên quan đến điều đó.” Trên thực tế, xương giá hạn chế mang lại những lợi ích to lớn cho nông dân. Độ ẩm trong lòng đất cho mùa xuân, giảm sự phụ thuộc vào lượng mưa theo mùa. Có những ngoại lệ đối với lập luận “lạnh đồng nghĩa với giàu có”. Có những nơi nhiệt đới giàu có như Hồng Kông và Singapore, nhờ vị thế thương mại vượt trội của họ. Tương tự như vậy , không phải tất cả các nước châu Âu đều có tiền – tại các thuộc địa cộng sản trước đây, tiềm năng kinh tế đã bị chính trị đè bẹp.

Masters stresses that climate will never be the overriding factor – the wealth of nations is too complicated to be attributable to just one factor. Climate, he feels, somehow combines with other factors such as the presence of institutions, including governments, and access to trading routes to determine whether a country will do well. Traditionally, Masters says, economists thought that institutions had the biggest effect on the economy, because they brought order to a country in the form of, for example, laws and property rights. With order, so the thinking went, came affluence. “But there are some problems that even countries with institutions have not been able to get around,” he says. “My feeling is that, as countries get richer, they get better institutions. And the accumulation of wealth and improvement in governing institutions are both helped by a favorable environment, including climate.”

Masters nhấn mạnh rằng khí hậu sẽ không bao giờ là yếu tố quan trọng nhất – sự giàu có của các quốc gia quá phức tạp để có thể quy cho chỉ một yếu tố. Ông cảm thấy khí hậu bằng cách nào đó kết hợp với các yếu tố khác như sự hiện diện của các tổ chức, bao gồm cả chính phủ và khả năng tiếp cận các tuyến thương mại để xác định liệu một quốc gia có hoạt động tốt hay không. Masters nói, theo truyền thống, các nhà kinh tế nghĩ rằng các thể chế có ảnh hưởng lớn nhất đối với nền kinh tế, bởi vì chúng mang lại trật tự cho một quốc gia dưới hình thức, chẳng hạn như luật pháp và quyền sở hữu. Với trật tự, vì vậy suy nghĩ đã đi, đến sự sung túc. Ông nói: “Nhưng có một số vấn đề mà ngay cả các quốc gia có thể chế cũng không thể giải quyết được. “Cảm giác của tôi là khi các quốc gia trở nên giàu có hơn, họ sẽ có thể chế tốt hơn. Và sự tích lũy của cải và sự cải thiện trong các thể chế quản lý đều được hỗ trợ bởi một môi trường thuận lợi, bao gồm cả khí hậu.”

This does not mean, he insists, that tropical countries are beyond economic help and destined to remain penniless. Instead, richer countries should change the way in which foreign aid is given. Instead of aid being geared towards improving governance, it should be spent on technology to improve agriculture and to combat disease. Masters cites one example: “There are regions in India that have been provided with irrigation, agricultural productivity has gone up and there has been an improvement in health.” Supplying vaccines against tropical diseases and developing crop varieties that can grow in the tropics would break the poverty cycle.

Ông khẳng định, điều này không có nghĩa là các nước nhiệt đới không được hỗ trợ về kinh tế và sẽ phải chịu cảnh không một xu dính túi. Thay vào đó, các nước giàu hơn nên thay đổi cách viện trợ nước ngoài. Thay vì viện trợ hướng tới việc cải thiện quản trị, nó nên được chi cho công nghệ để cải thiện nông nghiệp và chống lại bệnh tật. Masters trích dẫn một ví dụ: “Có những vùng ở Ấn Độ đã được cung cấp hệ thống tưới tiêu, năng suất nông nghiệp đã tăng lên và sức khỏe cũng được cải thiện”. Cung cấp vắc-xin chống lại các bệnh nhiệt đới và phát triển các giống cây trồng có thể phát triển ở vùng nhiệt đới sẽ phá vỡ vòng đói nghèo.

Other minds have applied themselves to the split between poor and rich nations, citing anthropological, climatic and zoological reasons for why temperate nations are the most affluent. In 350 BC, Aristotle observed that “those who live in a cold climate…are full of spirit”. Jared Diamond, from the University of California at Los Angeles, pointed out in his book Guns, Germs and Steel that Eurasia is broadly aligned east-west, while Africa and the Americas are aligned north-south. So, in Europe, crops can spread quickly across latitudes because climates are similar. One of the first domesticated crops, einkorn wheat, spread quickly from the Middle East into Europe; it took twice as long for corn to spread from Mexico to what is now the eastern United States. This easy movement along similar latitudes in Eurasia would also have meant a faster dissemination of other technologies such as the wheel and writing, Diamond speculates. The region also boasted domesticated livestock, which could provide meat, wool and motive power in the fields. Blessed with such natural advantages, Eurasia was bound to take off economically.

Những bộ óc khác đã áp dụng chính họ vào sự phân chia giữa các quốc gia nghèo và giàu, viện dẫn các lý do nhân chủng học, khí hậu và động vật học giải thích tại sao các quốc gia ôn đới là những quốc gia giàu có nhất. Vào năm 350 trước Công nguyên, Aristotle đã quan sát thấy rằng “những người sống ở vùng khí hậu lạnh giá… tràn đầy tinh thần”. Jared Diamond, từ Đại học California ở Los Angeles, đã chỉ ra trong cuốn sách của mình Súng, Vi trùng và Thép rằng Âu-Á nằm thẳng hàng theo hướng đông-tây, trong khi châu Phi và châu Mỹ nằm thẳng hàng theo hướng bắc-nam. Vì vậy, ở châu Âu, cây trồng có thể lan rộng nhanh chóng qua các vĩ độ vì khí hậu tương tự nhau. Một trong những loại cây trồng được thuần hóa đầu tiên, lúa mì einkorn, lan nhanh từ Trung Đông sang châu Âu; phải mất gấp đôi thời gian để ngô lan rộng từ Mexico đến khu vực ngày nay là miền đông Hoa Kỳ. Diamond suy đoán rằng sự di chuyển dễ dàng này dọc theo các vĩ độ tương tự ở Á-Âu cũng có nghĩa là sự phổ biến nhanh hơn các công nghệ khác như bánh xe và chữ viết. Khu vực này cũng tự hào về chăn nuôi gia súc đã được thuần hóa, có thể cung cấp thịt, len và động lực trên đồng ruộng. Được ban tặng những lợi thế tự nhiên như vậy, Eurasia chắc chắn sẽ cất cánh về mặt kinh tế.

G

John Gallup and Jeffrey Sachs, two US economists, have also pointed out striking correlations between the geographical location of countries and their wealth. They note that tropical countries between 23.45 degrees north and south of the equator are nearly all poor. In an article for the Harvard International Review, they concluded that “development surely seems to favor the temperate-zone economies, especially those in the northern hemisphere, and those that have managed to avoid both socialism and the ravages of war”. But Masters cautions against geographical determinism, the idea that tropical countries are beyond hope: “Human health and agriculture can be made better through scientific and technological research,” he says, “so we shouldn’t be writing off these countries. Take Singapore: without air conditioning, it wouldn’t be rich.”

John Gallup và Jeffrey Sachs, hai nhà kinh tế Mỹ, cũng đã chỉ ra mối tương quan nổi bật giữa vị trí địa lý của các quốc gia và sự giàu có của họ. Họ lưu ý rằng các quốc gia nhiệt đới giữa 23,45 độ bắc và nam của đường xích đạo hầu như đều nghèo. Trong một bài viết cho tạp chí Harvard International Review, họ kết luận rằng “sự phát triển chắc chắn có lợi cho các nền kinh tế vùng ôn đới, đặc biệt là những nền kinh tế ở bán cầu bắc và những nền kinh tế đã tránh được cả chủ nghĩa xã hội và sự tàn phá của chiến tranh”. Nhưng Masters cảnh báo chống lại chủ nghĩa quyết định địa lý, ý tưởng cho rằng các nước nhiệt đới không còn hy vọng: “Sức khỏe con người và nông nghiệp có thể được cải thiện thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ,” ông nói, “vì vậy chúng ta không nên loại bỏ các nước này. Hãy lấy Singapore làm ví dụ: không có điều hòa thì làm sao giàu được.”

2. Câu hỏi 

Questions 14-20

Reading Passage 2 has seven paragraphs, A-G.

Choose the most suitable heading for paragraphs AG from the list of headings below.

Write the appropriate number, i-x, in boxes 14-20 on your answer sheet.

List of Headings

  • i The positive correlation between climate and wealth
  • ii Other factors besides climate that influence wealth
  • iii Inspiration from reading a book
  • iv Other researchers’ results do not rule out exceptional cases
  • v Different attributes between Eurasia and Africa
  • vi Low temperature benefits people and crops
  • vii The importance of institution in traditional views
  • viii The spread of crops in Europe, Asia and other places
  • ix The best way to use aid
  • x Confusions and exceptions

1. Paragraph A

2. Paragraph B

3. Paragraph C

4. Paragraph D

5. Paragraph E

6. Paragraph F

7. Paragraph G

Questions 21-26

Complete the summary below,

Choose NO MORE THAN TWO WORDS from the passage for each answer.

Write your answers in boxes 21-26 on your answer sheet.

Dr William Masters read a book saying that a(an) 21….. epidemic  which struck an American city hundreds of years ago was terminated by a cold frost. And academics found that there is a connection between climate and country’s wealth as in the rich but small country of 22……. Yet besides excellent surroundings and climate, one country still needs to improve their 23 ….. to achieve long prosperity. Thanks to resembling weather conditions across latitude in the continent of 24….., crops such as 25….is bound to spread faster than from South America to the North. Other researchers also noted that even though geographical factors are important, tropical countries such as 26…..still became rich due to scientific advancement.

3. Phân tích đáp án 

Question 14: 

Thông tin ở đoạn A: “Dr William Masters…..struck” nghĩa là Tiến sĩ WilliamMasters đang đọc 1 quyển sách về loài muỗi thì cảm hứng đột nhiên xuất hiện.

ĐÁP ÁN: iii

Question 15:

Thông tin ở đoạn B: Đoạn này nhấn mạnh về những lợi ích của không khí lạnh: “cold snaps have two main benefits – big workforce” nghĩa là những đợt rét đột ngột có 2 lợi ích chính: chúng đóng băng những loài sâu bọ phá hủy mùa màng, và cũng làm đóng băng vi sinh vật, ví dụ như muỗi, những con vật có thể mang mầm bệnh. Kết quả là sản lượng nông nghiệp cao và lực lượng lao động dồi dào.

ĐÁP ÁN: vi

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
Low temperature cold snaps

Question 16: 

Thông tin ở đoạn C: “The academics took….impoverished” nghĩa là những nhà học thuật lay 2 nhóm thông tin. Nhóm đầu tiên là về thu nhập trung bình của các đất nước, nhóm thứ hai là dữ liệu về khí hậu. Họ đã tìm thấy sự ăn khớp kì lạ giữa 2 nhóm thông tin. Những đất nước mà có 5 hoặc hơn 5 ngày trời lạnh giá thì đều giàu có, những nước có ít hơn 5 ngày như vậy thì đều nghèo. Sau đó là những ví dụ ủng hộ cho điều này (Finland, Bolivia).

ĐÁP ÁN: i

Question 17: 

Thông tin ở đoạn D: “Masters stresses….will do well”. Nghĩa là Masters nhấn mạnh rằng khí hậu sẽ không bao giờ là nhân tố quan trọng hơn tất cả những nhân tố khác – ví dụ thể chế, bao gồm chính phủ, và sự tiếp cận đến các tuyến đường thương mại – để quyết định liệu rằng đất nước ấy có làm tốt hay không.

ĐÁP ÁN: ii

Question 18: 

Thông tin ở đoạn E: “This does not mean…disease”, nghĩa là điều này không có nghĩa là những đất nước ở vùng nhiệt đới thì không thể có sự trợ giúp về kinh tế và sẽ mãi mãi nghèo. Thay vào đó, những đat nước giàu có nên thay đổi cách viện trợ. Thay vì viện trợ chủ yếu là để cai thiện bộ máy cai trị, nó nên được dùng cho công nghệ để cai tiến nông nghiệp và để loại bỏ bệnh tật.

ĐÁP ÁN: ix

Question 19: 

Thông tin ở đoạn F: Đoạn này so sánh giữa Eurasia (Lục địa Âu-Á) và Africa (châu Phi): “Eurasia is broadly aligned….. similar”, nghĩa là Lục địa Á Âu các quốc gia phân bố chủ yếu theo chiều từ đông sang tây, trong khi châu Phi và châu Mỹ thì phân bố theo chiều bắc- nam. Vì vậy ở châu Âu, các loại cây trồng có thể lan rộng nhanh qua các vĩ độ vì khí hậu các quốc gia là tương tự như nhau.

ĐÁP ÁN: v

Question 20: 

Thông tin ở đoạn G: Ban đầu là sự nghiên cứu của các nhà khoa học khác: “development surely seems…northern hemisphere” nghĩa là sự phát triển dường như là chỉ đến với các quốc gia có khí hậu ôn hòa ở bắc bán cầu. Nhưng Masters đã phản đối sự quyết định của vị trí địa lý (geographical determinism) “Human health and agriculture….be rich”, nghĩa là sức khỏe con người và nông nghiệp hoàn toàn có thể cải thiện nhờ vào nghiên cứu khoa học công nghệ, vì vậy chúng ta không nên loại trừ các quốc gia đó. Ví dụ như Singapore, nếu không có hệ thống điều hòa không khí, nó sẽ không giàu có được như bây giờ.

ĐÁP ÁN:  D

Question 21: Keywords: William Masters, book, American city, cold frost

Thông tin ở đoạn A: “There was this anecdote…..first frost came”, nghĩa là Có 1 giai

thoại về trận dịch bệnh sốt vàng da tàn phá Philadelphia vào năm 1793. Dịch bệnh này đã tàn phá thành phố cho đến khi trận rét đầu tiên bắt đầu.

ĐÁP ÁN: yellow-fever epidemic

Question 22: Keywords: academics, connection, climate, wealth, country

Thông tin ở đoạn C: “ For example, Finland is a small country that is growing quickly”. nghĩa là Phần Lan là một thành phố phát triển rất nhanh chóng

ĐÁP ÁN: Finland

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
rich grow quickly

Question 23: Keywords: besides surroundings, climate, improve, prosperity

Thông tin ở đoạn D : “Climate, he feels, somehow…government”, nghĩa là Khí hậu, ông ta cảm thấy, cần phải kết hợp với những nhân tố khác – ví dụ như sự hiện diện của thể chế, hay chính phủ.

ĐÁP ÁN: institutions/ governments

Question 24: Keywords: resembling weather conditions, latitude, continent

Thông tin ở đoạn F: “So, in Europe, crops can spread quickly across latitudes because climates are similar”, nghĩa là Vì vậy, ở châu Âu, cây trồng có thể lan rộng nhanh chóng qua các vĩ độ vì khí hậu tương tự nhau

ĐÁP ÁN: Europe

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
resembling similar

Question 25: Keywords: crops, spread faster, South America, the North

Thông tin ở đoạn F: “ One of the first domesticated crops, einkorn wheat, spread quickly from the Middle East into Europe; it took twice as long for corn to spread from Mexico to what is now the eastern United States.”, nghĩa là 1 trong số các loài cây trồng được nhân giống đầu tiên, lúa mì einkorn, đã có thể phổ biến rất nhanh từ Trung Đông sang châu Âu, trong khi đó nó mất đến gấp đôi thời gian đó để có thể nhận giống từ Mexico (South America) sang đến Đông Mỹ (North America)

ĐÁP ÁN: einkorn wheat

Question 26: Keywords: Other researchers, geographical factors, tropical country, scientific advancement

Thông tin ở đoạn cuối: “But Masters cautions. ….it wouldn’t be rich”, nghĩa là nhưng mà Masters phản đối sự quyết định của vị trí địa lý, sức khỏe con người và nông nghiệp hoàn toàn có thể cải thiện nhờ vào nghiên cứu khoa học công nghệ, vì vậy chúng ta không nên loại trừ các quốc gia đó. Ví dụ như Singapore, nếu không có hệ thống điều hòa không khí, nó sẽ không giàu có được như bây giờ.

ĐÁP ÁN: Singapore

Từ vựng trong câu hỏi Từ đồng nghĩa trong bài đọc
scientific advancement technological and scientific research

Passage 3: Musical Maladies

Norman M. Weinberger reviews the latest work of Oliver Sacks on music.

Norman M. Weinberger đánh giá tác phẩm mới nhất của Oliver Sacks về âm nhạc.

1. Bản đọc & bản dịch tiếng Việt 

A

Music and the brain are both endlessly fascinating subjects, and as a neuroscientist specializing in auditory learning and memory, I find them especially intriguing. So I had high expecta-tions of Musicophilia, the latest offering from neurologist and prolific author Oliver Sacks. And I confess to feeling a little guilty reporting that my reactions to the book are mixed.

Âm nhạc và não bộ đều là những chủ đề vô cùng hấp dẫn, và với tư cách là một nhà thần kinh học chuyên nghiên cứu về thính giác và trí nhớ, tôi thấy chúng đặc biệt hấp dẫn. Vì vậy, tôi đặt nhiều kỳ vọng vào Musicophilia, sản phẩm mới nhất của nhà thần kinh học kiêm tác giả viết nhiều sách Oliver Sacks. Và thú nhận là tôi cảm thấy hơi tội lỗi khi báo cáo rằng phản ứng của tôi đối với cuốn sách là trái chiều.

B

Sacks himself is the best part of Musicophilia. He richly documents his own life in the book and reveals highly personal experiences. The photograph of him on the cover of the book— which shows him wearing headphones, eyes closed, clearly enchanted as he listens to Alfred Brendel perform Beethoven’s Pathétique Sonata—makes a positive impression that is borne out by the contents of the book. Sacks’s voice throughout is steady and erudite but never pon-tifical. He is neither self-conscious nor self-promoting.

Bản thân Sacks là phần hay nhất của Musicophilia. Ông ấy ghi lại rất nhiều tài liệu về cuộc sống của chính mình trong cuốn sách và tiết lộ những trải nghiệm mang tính cá nhân cao. Bức ảnh của ông ấy trên bìa cuốn sách—cho thấy ông ấy đeo tai nghe, nhắm mắt, rõ ràng bị mê hoặc khi lắng nghe Alfred Brendel biểu diễn Bản Sonata Pathétique của Beethoven—tạo ấn tượng tích cực qua nội dung cuốn sách. Giọng nói của Sacks xuyên suốt đều đặn và uyên bác nhưng không bao giờ giáo hoàng. Ông ấy không tự giác cũng không tự đề cao mình.

C

The preface gives a good idea of what the book will deliver. In it Sacks explains that he wants to convey the insights gleaned from the “enormous and rapidly growing body of work on the neural underpinnings of musical perception and imagery, and the complex and often bizarre disorders to which these are prone ” He also stresses the importance of “the simple art of observation” and “the richness of the human context.” He wants to combine “observation and description with the latest in technology,” he says, and to imaginatively enter into the expe-rience of his patients and subjects. The reader can see that Sacks, who has been practicing neurology for 40 years, is torn between the “old-fashioned” path of observation and the new-fangled, high-tech approach: He knows that he needs to take heed of the latter, but his heart lies with the former.

Lời nói đầu đưa ra một ý tưởng tốt về những gì cuốn sách sẽ cung cấp. Trong đó, Sacks giải thích rằng ông ấy muốn truyền đạt những hiểu biết sâu sắc thu được từ “khối công việc khổng lồ và đang phát triển nhanh chóng về nền tảng thần kinh của nhận thức và hình ảnh âm nhạc, cũng như những rối loạn phức tạp và thường kỳ lạ mà những thứ này dễ mắc phải”. Ông ấy cũng nhấn mạnh tầm quan trọng về “nghệ thuật quan sát đơn giản” và “sự phong phú của bối cảnh con người.” Ông ấy muốn kết hợp “việc quan sát và mô tả với công nghệ mới nhất,” ông ấy nói, và để thâm nhập một cách tưởng tượng vào trải nghiệm của bệnh nhân và đối tượng của mình. Người đọc có thể thấy rằng Sacks, người đã thực hành thần kinh học trong 40 năm, bị giằng xé giữa con đường quan sát “lỗi thời” và cách tiếp cận công nghệ cao, mới lạ: Ông ấy biết rằng mình cần phải chú ý đến cách tiếp cận thứ hai. , nhưng trái tim anh nằm với người trước.

D

The book consists mainly of detailed descriptions of cases, most of them involving patients whom Sacks has seen in his practice. Brief discussions of contemporary neuroscientific reports are sprinkled liberally throughout the text. Part I, “Haunted by Music,” begins with the strange case of Tony Cicoria, a nonmusical, middle-aged surgeon who was consumed by a love of music after being hit by lightning. He suddenly began to crave listening to piano music, which he had never cared for in the past. He started to play the piano and then to compose music, which arose spontaneously in his mind in a “torrent” of notes. How could this happen? Was the cause psychological? (He had had a near-death experience when the lightning struck him.) Or was it the direct result of a change in the auditory regions of his cerebral cortex? Electro-encephalography (EEG) showed his brain waves to be normal in the mid-1990s, just after his trauma and subsequent “conversion” to music. There are now more sensitive tests, but Cicoria has declined to undergo them; he does not want to delve into the causes of his musicality. What a shame!

Cuốn sách chủ yếu bao gồm các mô tả chi tiết về các trường hợp, hầu hết chúng liên quan đến những bệnh nhân mà Sacks đã gặp trong quá trình hành nghề của mình. Các cuộc thảo luận ngắn gọn về các báo cáo khoa học thần kinh đương đại được rải khắp văn bản. Phần I, “Bị ám ảnh bởi âm nhạc,” bắt đầu với trường hợp kỳ lạ của Tony Cicoria, một bác sĩ phẫu thuật trung niên, không am hiểu về âm nhạc, người đã say mê âm nhạc sau khi bị sét đánh. Ông bỗng bắt đầu thèm nghe nhạc piano, điều mà trước đây ông chưa bao giờ quan tâm. Ông ấy bắt đầu chơi piano và sau đó sáng tác nhạc, điều này nảy sinh một cách tự nhiên trong đầu ông ấy thành một “dòng suối” các nốt nhạc. Làm sao điều này xảy ra được? Nguyên nhân có phải do tâm lý? (Ông ấy đã có trải nghiệm cận kề cái chết khi bị sét đánh.) Hay đó là kết quả trực tiếp của sự thay đổi vùng thính giác trên vỏ não của ông ấy? Điện não đồ (EEG) cho thấy sóng não của ông ấy bình thường vào giữa những năm 1990, ngay sau khi ông ấy bị chấn thương và sau đó là “chuyển đổi” sang âm nhạc. Hiện có nhiều bài kiểm tra nhạy cảm hơn, nhưng Cicoria đã từ chối trải qua chúng; ông ấy không muốn để đi sâu vào nguyên nhân của âm nhạc của mình.Thật là một sự xấu hổ!

E

Part II, “A Range of Musicality,” covers a wider variety of topics, but unfortunately, some of the chapters offer little or nothing that is new. For example, chapter 13, which is five pages long, merely notes that the blind often has better hearing than the sighted. The most interesting chapters are those that present the strangest cases. Chapter 8 is about “amusia,” an inability to hear sounds as music, and “dysharmonia,” a highly specific impairment of the ability to hear harmony, with the ability to understand melody left intact. Such specific “dissociations” are found throughout the cases Sacks recounts.

Phần II, “Một phạm vi âm nhạc,” đề cập đến nhiều chủ đề hơn, nhưng thật không may, một số chương cung cấp rất ít hoặc không có gì mới. Ví dụ, chương 13, dài 5 trang, chỉ lưu ý rằng người mù thường nghe tốt hơn người sáng mắt. Những chương thú vị nhất là những chương trình bày những trường hợp kỳ lạ nhất. Chương 8 nói về “amusia,” không có khả năng nghe âm thanh như âm nhạc, và “dysharmonie,” một tình trạng suy giảm khả năng nghe hòa âm rất cụ thể, với khả năng hiểu giai điệu vẫn còn nguyên vẹn. Những “sự phân ly” cụ thể như vậy được tìm thấy trong suốt các trường hợp mà Sacks kể lại.

F

To Sacks’s credit, part III, “Memory, Movement, and Music,” brings us into the underappreciated realm of music therapy. Chapter 16 explains how “melodic intonation therapy” is being used to help expressive aphasic patients (those unable to express their thoughts verbally following a stroke or other cerebral incident) once again become capable of fluent speech. In chapter 20, Sacks demonstrates the near-miraculous power of music to animate Parkinson’s patients and other people with severe movement disorders, even those who are frozen into odd postures. Scientists cannot yet explain how music achieves this effect.

Theo công lao của Sacks, phần III, “Trí nhớ, Chuyển động và Âm nhạc,” đưa chúng ta vào lĩnh vực trị liệu bằng âm nhạc vốn không được đánh giá cao. Chương 16 giải thích cách “liệu pháp ngữ điệu giai điệu” được sử dụng để giúp những bệnh nhân mắc chứng mất ngôn ngữ diễn đạt (những người không thể diễn đạt suy nghĩ của mình bằng lời nói sau một cơn đột quỵ hoặc tai biến não khác) một lần nữa có khả năng nói lưu loát. Trong chương 20, Sacks chứng minh sức mạnh gần như kỳ diệu của âm nhạc trong việc làm sống động các bệnh nhân Parkinson và những người khác bị rối loạn vận động nghiêm trọng, ngay cả những người bị đóng băng ở những tư thế kỳ lạ. Các nhà khoa học vẫn chưa thể giải thích làm thế nào âm nhạc đạt được hiệu ứng này.

G

To readers who are unfamiliar with neuroscience and music behavior, Musicophilia may be something of a revelation. But the book will not satisfy those seeking the causes and implica-tions of the phenomena Sacks describes. For one thing, Sacks appears to be more at ease dis-cussing patients than discussing experiments. And he tends to be rather uncritical in accepting scientific findings and theories.

Đối với những độc giả không quen thuộc với khoa học thần kinh và hành vi âm nhạc, Musicophilia có thể là một điều gì đó mang tính khám phá. Nhưng cuốn sách sẽ không làm hài lòng những ai đang tìm kiếm nguyên nhân và hệ quả của những hiện tượng mà Sacks mô tả. Có điều, Sacks dường như thoải mái thảo luận về bệnh nhân hơn là thảo luận về các thí nghiệm. Và anh ấy có xu hướng khá thiếu phê phán trong việc chấp nhận những phát hiện và lý thuyết khoa học.

H

It’s true that the causes of music-brain oddities remain poorly understood. However, Sacks could have done more to draw out some of the implications of the careful observations that he and other neurologists have made and of the treatments that have been successful. For example, he might have noted that the many specific dissociations among components of music comprehension, such as loss of the ability to perceive harmony but not melody, indicate that there is no music center in the brain. Because many people who read the book are likely to believe in the brain localisation of all mental functions, this was a missed educational oppor-tunity.

Đúng là nguyên nhân của những điều kỳ lạ trong não bộ âm nhạc vẫn chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên, Sacks lẽ ra có thể làm nhiều hơn để rút ra một số ý nghĩa của những quan sát cẩn thận mà ông và các nhà thần kinh học khác đã thực hiện và của những phương pháp điều trị đã thành công. Ví dụ, ông ấy có thể đã lưu ý rằng nhiều sự phân tách cụ thể giữa các thành phần của việc lĩnh hội âm nhạc, chẳng hạn như mất khả năng cảm nhận hòa âm chứ không phải giai điệu, cho thấy rằng không có trung tâm âm nhạc trong não. Bởi vì nhiều người đọc cuốn sách có xu hướng tin vào việc bộ não định vị tất cả các chức năng tinh thần, nên đây là một cơ hội giáo dục bị bỏ lỡ.

I

Another conclusion one could draw is that there seem to be no “cures” for neurological problems involving music. A drug can alleviate a symptom in one patient and aggravate it in another, or can have both positive and negative effects in the same patient. Treatments mentioned seem to be almost exclusively antiepileptic medications, which “damp down” the excitability of the brain in general; their effectiveness varies widely.

Một kết luận khác mà người ta có thể rút ra là dường như không có “phương pháp chữa trị” nào cho các vấn đề về thần kinh liên quan đến âm nhạc. Một loại thuốc có thể làm giảm bớt triệu chứng ở bệnh nhân này và làm trầm trọng thêm triệu chứng ở bệnh nhân khác, hoặc có thể có cả tác động tích cực và tiêu cực trên cùng một bệnh nhân. Các phương pháp điều trị được đề cập dường như hầu như chỉ là thuốc chống động kinh, làm “giảm bớt” khả năng kích thích của não bộ nói chung, hiệu quả của chúng rất khác nhau.

J

Finally, in many of the cases described here the patient with music-brain symptoms is reported to have “normal” EEG results. Although Sacks recognises the existence of new technologies, among them far more sensitive ways to analyze brain waves than the standard neurological EEG test, he does not call for their use. In fact, although he exhibits the greatest compassion for patients, he conveys no sense of urgency about the pursuit of new avenues in the diagnosis and treatment of music-brain disorders. This absence echoes the hook’s preface, in which Sacks expresses fear that “the simple art of observation may be lost” if we rely too much on new technologies. He does call for both approaches, though, and we can only hope that the neurological community will respond.

Cuối cùng, trong nhiều trường hợp được mô tả ở đây, bệnh nhân có triệu chứng não âm nhạc được báo cáo là có kết quả điện não đồ “bình thường”. Mặc dù Sacks nhận ra sự tồn tại của các công nghệ mới, trong số đó có những cách phân tích sóng não nhạy cảm hơn nhiều so với thử nghiệm điện não đồ thần kinh tiêu chuẩn, nhưng ông không kêu gọi sử dụng chúng. Trên thực tế, mặc dù ông ấy thể hiện lòng trắc ẩn lớn nhất đối với bệnh nhân, nhưng ông ấy không truyền đạt cảm giác cấp bách về việc theo đuổi những con đường mới trong chẩn đoán và điều trị chứng rối loạn não bộ do âm nhạc. Sự vắng mặt này lặp lại lời tựa của hook, trong đó Sacks bày tỏ nỗi sợ hãi rằng “nghệ thuật quan sát đơn giản có thể bị mai một” nếu chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào công nghệ mới. Tuy nhiên, ông ấy kêu gọi cả hai cách tiếp cận và chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng cộng đồng thần kinh sẽ phản hồi.

2. Câu hỏi 

Questions 27-30

Choose the correct letter, A, B, C or D.

Write the correct letter in boxes 27-30 on your answer sheet.

27. Why does the writer have mixed feelings about the book?

  • A The guilty feeling made him so.
  • B The writer expected it to be better than it was.
  • C Sacks failed to include his personal stories in the book.
  • D This is the only book written by Sacks.

28. What is the best part of the book?

  • A the photo of Sacks listening to music
  • B the tone of voice of the book
  • C the autobiographical description in the book
  • D the description of Sacks’s wealth

29. In the preface, what did Sacks try to achieve?

  • A make terms with the new technologies
  • B give detailed description of various musical disorders
  • C explain how people understand music
  • D explain why he needs to do away with simple observation

30. What is disappointing about Tony Cicoria’s case?

  • A He refuses to have further tests.
  • B He can’t determine the cause of his sudden musicality.
  • C He nearly died because of the lightening.
  • D His brain waves were too normal to show anything.

Questions 31-36

Do the following statements agree with the views of the writer in Reading Passage 3?

In boxes 31-36 on your answer sheet, write

  • YES               if the statement agrees with the views of the writer
  • NO                if the statement contradicts the views of the writer
  • NOT GIVEN if it is impossible to say what the writer thinks about this

31. It is difficult to give a well-reputable writer a less than favorable review.

32. Beethoven’s Pathétique Sonata is a good treatment for musical disorders.

33. Sacks believes technological methods are not important compared with observation when studying his patients.

34. It is difficult to understand why music therapy is undervalued.

35. Sacks should have more skepticism about other theories and findings.

36. Sacks is impatient to use new testing methods.

Questions 37-40

Complete each sentence with the correct ending, A-F, below.

Write the correct letter, A-F, in boxes 37-40 on your answer sheet.

  • A show no music-brain disorders.
  • B indicates that medication can have varied results.
  • C is key for the neurological community to unravel the mysteries.
  • D should not be used in isolation.
  • E indicate that not everyone can receive good education.
  • F show that music is not localized in the brain.

37. The dissociations between harmony and melody

38. The study of treating musical disorders

39. The EEG scans of Sacks’s patients

40. Sacks believes testing based on new technologie

3. Phân tích đáp án 

Question 27: Keywords: Why, writer, mixed feeling

Thông tin ở đoạn A: “So I had high expectations…mixed”, nghĩa là Vì vậy tôi đã có những kỳ vọng cao vào Musciophilia, tác phẩm cuối cùng từ nhà thần kinh học và cũng là tác giả có nhiều tác phẩm Oliver Sacks. Và tôi phải thú nhận rằng tôi cảm thấy khá tội lỗi khi phản ứng của tôi về quyển sách thật lẫn lộn.

ĐÁP ÁN: B

Question 28: Keywords: best part

Thông tin ở đoạn B: “Sacks himself is the best….personal experiences” nghĩa là Sack Chính là phần hay nhất của cuốn sách. Ông ta đã ghi lại cuộc đời mình 1 cách phong phú và tiết lộ những trải nghiệm cá nhân đa dạng.

ĐÁP ÁN: C

Question 29: Keywords: preface, what, Sacks, achieve

Thông tin ở đoạn C: “The reader can see that Sacks, who has been. ….lies with the former”, nghĩa là độc giả có thể nhận thấy rằng Sacks, ngưòi đã nghiên cứu thần kinh học hơn 40 năm, bị giằng xé giữa phương thức quan sát “cũ kỹ” và cách tiếp cận mới sử dụng công nghệ cao. Ông ta hiểu rằng ông ta cần phải lưu ý đến cái thứ hai (công nghệ) nhưng tâm ông ta lại nghiêng về cái thứ nhất.

ĐÁP ÁN: A

Question 30: Keywords: disappointing, Tony Cicoria

Thông tin ở đoạn D: “There are now more sensitive tests, but…What a shame!” nghĩa là Bây giờ đã có những cách thử nghiệm chính xác hơn, nhưng Cicoria lại từ chối thử nghiệm, ông ta không muốn tìm hiểu kỹ về nguyên nhân dẫn đến năng khiếu âm nhạc của ông ta. Thật đáng tiếc!

ĐÁP ÁN: A

Question 31: Keywords: difficult, well-reputable writer, less than favorable review

Thông tin ở đoạn A: “And I confess to feeling a little guilty …. are mixed” nghĩa là tôi phải thú nhận là cảm thấy 1 chút tội lỗi khi phải nói rằng phản ứng của tôi đối với quyển sách thật lẫn lộn. Vì Oliver Sacks là 1 tác giả nổi tiếng, nên cảm giác của người viết mới lẫn lộn khi sách không được hay như mong đợi, tương đương với việc khó mà cho 1 tác giả nổi tiếng nhận xét không tốt.

ĐÁP ÁN: TRUE

Question 32: Pathetique Sonata, good treatment, musical disorders

ĐÁP ÁN: NOT GIVEN

Question 33: Keywords: Sacks, technological methods, not important, observation

Thông tin vẫn ở đoạn C: “The reader can see that…. former” nghĩa là độc giả có thể nhận thấy rằng Sacks, người đã nghiên cứu thần kinh học hơn 40 năm, bị giằng xé giữa phương thức quan sát “cũ kỹ” và cách tiếp cận mới sử dụng công nghệ cao. Ông ta hiểu rằng ông ta cần phải lưu ý đến cái thứ hai (công nghệ) nhưng tâm ông ta lại nghiêng về cái thứ nhất -> Ông ấy coi công nghệ cũng quan trọng như việc quan sát vậy.

ĐÁP ÁN: FALSE

Question 34: Keywords: difficult, understand, why music therapy, undervalued

ĐÁP ÁN: NOT GIVEN

Question 35: Keywords: Sacks, skepticism, other theories, findings

Thông tin ở đoạn G: “And he tends to be rather uncritical. …theories” nghĩa là và ông ta cũng có xu hướng thiếu khả năng phê bình, đánh giá trong việc chấp nhận các học thuyết và phát hiện khác.

ĐÁP ÁN: YES

scepticism (sự hoài nghi) ≠ uncritical (không hoài nghi, phê bình)

Question 36: Keywords: Sacks, impatient, new testing methods

Thông tin ở đoạn cuối:  “Although Sacks recognises the existence…… call for their use” nghĩa là mặc dù Sacks nhận ra sự tồn tại của những công nghệ mới, và trong đó có rất nhiều cách chính xác hơn để phân tích sóng não so với phương pháp EEG truyền thống, ông ta không hề sử dụng đến chúng.

ĐÁP ÁN: NO

Question 37: Keywords: dissociation, harmony, melody

Thông tin ở đoạn H: “many specific associations among components of music comprehension….. no music center in the brain”. Nghĩa là có rất nhiều sự phân tách giữa các yếu tố của nhận thức âm nhạc, ví dụ như sự mất khả năng cảm nhận hòa âm trong khi có thể cảm nhận được giai điệu, chỉ ra rằng không có trung khu âm nhạc ở trong não.

ĐÁP ÁN: F

Question 38: Keywords: study, treating music disorders

Thông tin ở đoạn I: : “their effectiveness varies widely” nghĩa là công dụng của nó rất đa dạng.

ĐÁP ÁN: B

Question 39.  Keywords:  EEG scan, Sacks’s patients

Thông tin ở đoạn cuối: “Finally, in many of the cases…..EEG results” nghĩa là Cuối cùng, trong rất nhiều những trường hợp miêu tả ở đây, bệnh nhân với những triệu chứng về âm nhạc – não bộ lại có kết quả EEG bình thường.

ĐÁP ÁN: A

Question 40.  Keywords: Sacks, testing, new technologies

Thông tin ở đoạn cuối: “Sacks expresses fear that the simple art of….new technologies” nghĩa là Sacks cũng thể hiện nỗi lo rằng nghệ thuật quan sát sẽ bị mất nếu chúng ta dựa vào công nghệ mới quá nhiều.

ĐÁP ÁN: D

HỌC IELTS ONLINE QUA ZOOM,
CÁCH HỌC HIỆU QUẢ CỦA NGƯỜI HIỆN ĐẠI
Để cô Thanh Loan giúp bạn đánh giá đầu vào chi tiết, xây dựng lộ trình học tập cá nhân hoá phù hợp với đầu vào và mục tiêu bạn mong muốn
0
    0
    GIỎ HÀNG
    Giỏ hàng trốngQuay lại
      Sử dụng